Chúa Nhật 27 Thường Niên – Năm A
“Ông sẽ cho người khác thuê vườn nho”.
Bài Ðọc I: Is 5, 1-7
“Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Tôi sẽ ca tặng người yêu bài hát của cô bác tôi về vườn nho.
Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho, nhưng nó lại sinh toàn nho dại.
Vậy giờ đây, hỡi dân cư Giêrusalem và người Giuđa, hãy luận xét giữa ta và vườn nho ta. Nào còn việc gì phải làm cho vườn nho ta mà ta đã không làm? Sao ta trông mong nó sinh quả nho, mà nó lại sinh quả nho dại!
Giờ đây ta tỏ bày cho các ngươi biết ta sẽ làm gì đối với vườn nho ta: Ta sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó. Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích. Ta trông mong nó thực hành điều chính trực, nhưng đây toàn sự gian ác. Ta trông mong nó thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 79, 9 và 12. 13-14. 15-16. 19-20
Ðáp: Vườn nho của Chúa là nhà Israel
Xướng: Từ Ai-cập Chúa đã mang về một gốc nho. Chúa đã đuổi chư dân đi để ương trồng nó. Nó vươn ngành ra cho tới nơi biển cả, vươn chồi non cho tới chỗ đại giang.
Xướng: Tại sao Ngài phá vỡ hàng rào, để bao khách qua đường đều lảy hái nó, để lợn rừng xông ra tàn phá, và muông thú ngoài đồng dùng nó làm cỏ nuôi thân?
Xướng: Lạy Chúa thiên binh, xin thương trở lại; từ trời cao xin nhìn coi và thăm viếng vườn nho này. Xin bảo vệ vườn nho mà tay hữu Ngài đã cấy, bảo vệ ngành nho mà Ngài đã củng cố cho mình.
Xướng: Chúng con sẽ không còn rời xa Chúa nữa. Chúa cho chúng con được sống, và chúng con ca tụng danh Ngài. Lạy Chúa thiên binh, xin cho chúng con được phục hồi, xin tỏ thiên nhan hiền từ Chúa ra, hầu cho chúng con được ơn cứu sống.
Bài Ðọc II: Pl 4, 6-9
“Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Anh em thân mến, anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.
Vả lại, hỡi anh em, những gì là chân thật, trong sạch, công chính, là thánh thiện, đáng yêu chuộng, danh thơm tiếng tốt, là nhân đức, là luật pháp đáng khen, thì anh em hãy tưởng nghĩ những sự ấy. Những điều anh em đã học biết, đã lãnh nhận, đã nghe và đã thấy nơi tôi, anh em hãy đem những điều đó ra thực hành, thì Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Ga 14, 5
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 21, 33-43
“Ông sẽ cho người khác thuê vườn nho”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh, đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: “Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó”. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào?” Các ông trả lời, “Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi”.
Chúa Giêsu phán: “Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: “Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc. Ðó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta!” Bởi vậy, Tôi bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”.
Ðó là lời Chúa.
Hình ảnh vườn nho là một trong những biểu tượng tuyệt đẹp và ý nghĩa sâu xa của Kinh Thánh. Ngôn sứ I-sai-a đã diễn tả cách tình tứ: “Tôi sẽ ca tặng người yêu bài hát về vườn nho” (Is 5,1). Từ lời ngôn sứ I-sai-a, qua Thánh vịnh, đến dụ ngôn của Đức Giê-su về những người làm vườn nho, một câu hỏi xuyên suốt được đặt ra cho mỗi chúng ta: Thiên Chúa đã trao cho chúng ta một vườn nho như thế nào, và chúng ta đã làm gì với vườn nho Người trao?
Vườn nho, hồng ân tình yêu của Thiên Chúa
Thiên Chúa được ví như người chủ đã hết lòng chăm sóc vườn nho, còn vườn nho là nhà Ít-ra-en (Is 5,7). Ngài đã làm tất cả những gì cần thiết: rào giậu, nhặt đá, chọn giống nho tốt, xây tháp canh và chuẩn bị bồn đạp nho (x. Is 5,2). Mỗi công việc đều diễn tả sự ân cần, tận tụy và quảng đại của người trồng nho. Ít-ra-en không tự mình trở thành vườn nho của Chúa; chính Chúa đã tuyển chọn, yêu thương, giải thoát và chăm sóc Ít-ra-en trước.
Thế nhưng, điều đáng buồn là sau tất cả những gì Thiên Chúa đã làm, Chúa “trông mong nó sinh quả nho, mà nó lại sinh toàn nho dại” (Is 5,2). Nghĩa là Thiên Chúa mong dân Ít-ra-en sống chính trực và công bình, nhưng lại gặp toàn sự gian ác và nghe tiếng kêu oan (x. Is 5,7). “Nho dại” vì thế không chỉ nói đến sự thất bại của một mùa nho, mà diễn tả sự bất trung của Ít-ra-en trước tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.
Lời ngôn sứ cũng trở thành câu hỏi dành cho mỗi người: Tôi đang làm gì với những hồng ân Chúa đã trao ban? Cuộc đời mỗi người chính là một “vườn nho” được Chúa chăm sóc bằng tình yêu. Sự sống, thời gian, gia đình, đức tin, khả năng, những người Chúa gửi đến và những cơ hội để làm điều thiện đều là những hồng ân quý giá. Thiên Chúa không chỉ ban ơn, nhưng còn chờ đợi nơi chúng ta những hoa trái tương xứng với tình yêu ấy.
Chúa muốn hái nho ngon ngọt nơi chúng ta là công bình, chính trực, yêu thương, tha thứ và biết quan tâm đến người khác, chứ không phải là thành công, danh vọng hay của cải. Chúng ta đón nhận hồng ân Chúa ban thì phải để cho tình yêu ấy sinh hoa trái trong đời mình.
Vườn nho cần được phục hồi
Nếu I-sai-a cho thấy một vườn nho đã thất bại vì không sinh hoa trái tốt, thì Thánh vịnh 79 lại mở ra một chân trời hy vọng. Dân Chúa nhớ lại nguồn gốc của mình: “Gốc nho này Chúa bứng từ Ai cập” (Tv 79,9). Căn tính của Ít-ra-en trước hết là một hồng ân của tình yêu giao ước.
Nhưng giờ đây vườn nho: tường rào bị phá đổ, heo rừng vào phá phách, dã thú gặm tan hoang (x. Tv 79,13-14). Hình ảnh ấy gợi lại lời cảnh báo của I-sai-a: khi con người không còn sinh hoa trái của công bình và chính trực, vườn nho sẽ trở nên hoang tàn.
Tuy nhiên, Thánh vịnh không kết thúc bằng thất vọng. Từ giữa cảnh hoang tàn, lời cầu xin vang lên: “Lạy Chúa, xin thương trở lại… đoái nhìn xem và thăm viếng vườn nho cũ” (Tv 79,15). Dân Chúa tin rằng Đấng đã trồng thì cũng có thể phục hồi; Đấng đã yêu thương thì không bỏ mặc công trình của tay Người.
Đức Ki-tô là viên đá góc của vườn nho mới
Chúa Giê-su đưa hình ảnh vườn nho đến một cao điểm mới. Ông chủ không ngừng sai các đầy tớ đến để nhận phần hoa lợi, nhưng các tá điền lần lượt đánh đập, ném đá và giết họ. Sau cùng, ông sai chính con trai mình, với hy vọng họ sẽ kính nể. Nhưng người con cũng bị bắt, lôi ra khỏi vườn nho và giết chết (x. Mt 21,35-39).
Người Con ấy chính là Đức Giê-su. Người đến như đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Thế nhưng, con người đã khước từ Người. Tuy nhiên, điều tưởng như thất bại lại trở thành chiến thắng của Thiên Chúa: “Chính viên đá bọn thợ xây loại bỏ đã trở nên viên đá góc” (Mt 21,42).
Đức Ki-tô chính là viên đá góc: Người bị loại bỏ nhưng trở thành nền tảng; bị đóng đinh nhưng trở thành Đấng cứu độ; đi vào cái chết nhưng trở thành nguồn mạch sự sống. Đây là nghịch lý của Tin Mừng: Thiên Chúa có thể biến thập giá thành vinh quang, biến cái chết thành sự sống và biến điều con người tưởng là thất bại thành con đường cứu độ.
Sự kiên nhẫn của ông chủ vườn nho cũng mặc khải lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Người không vội từ bỏ con người, nhưng liên tục sai các sứ giả đến và cuối cùng trao ban chính Con Một. Người luôn mở ra một con đường để con người trở về và sinh hoa trái.
Được trao phó để sinh hoa trái
Lời Chúa Giê-su: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái” (Mt 21,43) cho thấy một chân lý quan trọng: hồng ân luôn đi liền với trách nhiệm. Được tuyển chọn không phải để hưởng đặc quyền, nhưng để sinh hoa trái; được trao vườn nho không phải để chiếm hữu, nhưng để chăm sóc và làm cho vườn nho sinh ích lợi.
Nền tảng của tất cả vẫn là Đức Ki-tô, viên đá góc. Nếu không gắn bó với Người, vườn nho đời ta dễ trở thành khô cằn và chỉ sinh “nho dại”. Lấy Đức Ki-tô làm trung tâm, tình yêu của Chúa sẽ biến đổi tâm hồn, để từ đó đời sống chúng ta có thể sinh những hoa trái đẹp lòng Thiên Chúa.
Sau cùng, câu hỏi vẫn vang lên cho mỗi người: Vườn nho Chúa trao cho tôi hôm nay đang sinh hoa trái gì? Ước gì khi Chúa đến thăm vườn nho đời mình, Người không gặp những “nho dại” của ích kỷ và vô cảm, nhưng gặp được những chùm nho chín mọng của công bình, yêu thương, lòng thương xót và sự quảng đại.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
2. Thiên Chúa luôn kỳ vọng nơi chúng ta
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong ngữ cảnh những giáo huấn của Chúa Giê-su về Nước Trời. Để người nghe dễ hiểu, Chúa Giê-su dùng những những hình ảnh đơn sơ dung dị trong cuộc sống đời thường để so sánh với Nước Trời. Tất cả các dụ ngôn đều giới thiệu hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và từ bi. Ngài được diễn tả như một ông vua sẵn sàng tha một khoản nợ lớn cho một con nợ; như một ông chủ vườn nho trả công cho mọi người theo lòng quảng đại; như một người đi xa sẽ trở về và tính toán với các đầy tớ về số bạc được trao; như một người cha sai hai con mình đi làm vườn nho. Đó là những nét phác họa chân dung của Thiên Chúa trong giáo huấn của Chúa Giê-su.
Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là lời khẳng định được trải dài trong Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước. Ngài tạo dựng con người và mong cho tất cả được cứu rỗi. Ngài không vui khi con người phải trừng phạt và phải chết. Bài đọc I đã diễn tả tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người dưới hình ảnh một ông chủ và vườn nho. Ông chăm sóc kỹ lưỡng vườn nho như người cha chăm sóc con cái mình, và ông kỳ vọng sẽ nhận được hoa thơm trái ngọt từ vườn nho này. Nhưng kết quả thì ngược lại với kỳ vọng của ông. Vườn nho không sinh trái ngọt mà sinh trái đắng. Ngôn sứ I-sai-a kết luận một cách rất rõ ràng: vườn nho ấy là nhà Ít-ra-en. “Thiên Chúa những mong họ sống công bình, mà chỉ toàn thấy là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than”. Lịch sử ghi nhận, biết bao lần con người đã làm Thiên Chúa thất vọng.
Nếu những người được trao quản lý vườn nho được nói tới trong Bài đọc I đã bê trễ và lười biếng trong trách nhiệm, thì những tá điền được nói trong Tin Mừng lại gian ác hơn bội phần. Không chỉ lười biếng, mà họ còn âm mưu chiếm đoạt vườn nho, thậm chí giết chính con của ông chủ vườn nho, khi cậu này đến thu lợi. Trong dụ ngôn của Chúa Giê-su, sự gian ác của những tá điền này lên tới cực điểm.
Qua dụ ngôn ông chủ vườn nho và tá điền gian ác, Chúa Giê-su đã phác họa lịch sử Ít-ra-en, cũng là lịch sử cứu độ. Các sách Tin Mừng được viết sau biến cố phục sinh, qua đó các tác giả quy hướng về Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Người được Chúa Cha sai đến trần gian để loan báo tình yêu thương, giúp cho con người hạnh phúc, nhưng Người đã bị giết chết một cách đau thương.
Kết thúc của dụ ngôn đậm nét bi thương. Một lưu ý quan trọng là Chúa Giê-su nói dụ ngôn này với các thượng tế và kỳ mục của người Do Thái, tức là nói với những người lãnh đạo cao nhất trong dân. Thánh Mát-thêu đặt dụ ngôn này vào bối cảnh sau khi Đức Giê-su đã long trọng vào thành Giê-ru-sa-lem, và lúc này Người đến giảng dạy trong Đền thờ. Nơi đây xảy ra cuộc đối đầu giữa các thượng tế và Chúa Giê-su. Chúng ta nhớ lại, trong Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giê-su đã kể câu chuyện dụ ngôn về hai người con. Người thứ nhất từ chối lời cha mình rồi sau đó lại đi làm; người thứ hai vâng dạ rất lễ phép nhưng sau đó chẳng làm gì. Sau khi kể câu chuyện này, Chúa nhường cho các thượng tế và kỳ mục đưa ra câu kết luận xem người con nào thực hiện ý của cha mình. Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng vậy. Chúa hỏi họ: Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì với bọn tá điền kia?”. Họ trả lời: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”. Với lối kể chuyện tài tình, Chúa Giê-su muốn chính các thượng tế và kỳ mục đưa ra câu kết cho dụ ngôn, và như thế, họ đang kết luận về thân phận của chính mình. Bởi lẽ họ đã khước từ Con Một Thiên Chúa, Đấng đến thế gian để quy tụ muôn dân về một mối. Dụ ngôn này được viết và được đọc theo nhãn giới Ki-tô giáo, sẽ giúp độc giả nhận ra người con của ông chủ là Đức Giê-su. “Đứa con thừa tự đây rồi, nào ta giết quách đi và đạt lấy gia tài”. Độc giả gốc Do Thái qua câu chuyện này cũng dễ dàng nhận ra những điều tương tự trong câu chuyện về ông Giu-se con ông Gia-cóp trong sách Sáng thế. Ông đã bị các anh em mình ghen ghét bạc đãi và bán sang Ai-cập. Ông Giu-se là hình bóng Đấng Cứu thế. Câu kết của Tin Mừng hôm nay như một lời tuyên án trực tiếp đối với các thượng tế và kỳ mục: “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.
Dưới lăng kính Ki-tô giáo, những gì được nói trong Bài đọc I và trong bài Tin Mừng vẫn mang tính hiện tại đối với chúng ta. Con người đang sống trong vườn nho cuộc đời, và Thiên Chúa luôn kỳ vọng những điều tốt lành từ cố gắng của chúng ta. Đức Giê-su đã chỉ cho chúng ta thấy con đường hoàn thiện để được về trời với Người. Tuy vậy, nhiều khi chúng ta đã khước từ lời mời gọi của Chúa, để chọn những giá trị khác, mang nét hào nhoáng bên ngoài mà trống rỗng nội tâm. Ước gì chúng ta thực hiện lời thánh Phao-lô trong thư gửi giáo dân Phi-líp-phê: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý và thực hiện”. Đó là những gì Thiên Chúa chờ đợi nơi chúng ta, như những mong ước của một ông chủ vườn nho mong được thấy hoa thơm trái ngọt trong vườn nho mình.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Chủ đề: Vườn nho của Chúa (Mt 21,38)
Anh chị em thân mến
Ngày xưa Thiên Chúa đã đặt nguyên tổ chúng ta trong vườn địa đàng, để các ngài “canh tác và giữ vườn”. Ngày nay Thiên Chúa cũng đặt chúng ta trong vườn nho Hội Thánh để chúng ta canh tác và nộp hoa lợi.
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa chỉ cho chúng ta biết phải làm gì trong Hội Thánh của Ngài.
Mặc dù là thành phần của Hội Thánh, nhưng rất ít khi chúng ta góp phần xây dựng Hội Thánh.
Chúng ta lãnh nhận ơn Chúa rất nhiều, nhưng rất ít khi chúng ta làm gì để đáp lại những ơn ấy.
Do tội lỗi đã phạm, chúng ta đã góp phần giết chết Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa.
III. Lời Chúa
Trong dụ ngôn này, “vườn nho” tượng trưng cho dân Israel.
Thiên Chúa đã yêu thương, chăm sóc dân này rất ân cần chu đáo. Ngài chỉ mong nó sinh ra những trái nho ngon ngọt.
Nhưng trước bao nhiêu tình thương và chăm sóc của Thiên Chúa, dân Israel vẫn bạc tình bạc nghĩa, như một vườn nho chỉ sinh trái dại.
Do đó, cuối cùng Thiên Chúa quyết định bỏ mặc họ cho quân thù dày xéo.
Tất cả những điều được nói bằng lời lẽ dụ ngôn trên đều được thực hiện trong lịch sử Israel.
Tv này là một lời nguyện sám hối. Tác giả coi mình là một người dân Israel, biết tội mình là một vườn nho không sinh trái tốt, đáng bị quân thù dày xéo. Nhưng tác giả kêu xin lòng thương xót Chúa, xin Ngài bảo vệ vườn nho yêu quý của Ngài.
Lời cầu xin ấy đã được nhậm lời: Thiên Chúa sẽ sai Con Ngài là Ðức Giêsu đến để phục hồi vườn nho ấy.
Vườn nho mà Ðức Giêsu tái lập là Nước Trời. Những thợ làm vườn nho ban đầu là dân Do Thái, cách riêng là các lãnh tụ tôn giáo Do Thái.
Lẽ ra dân Do Thái phải biết ơn Chúa khi gọi họ vào Nước Trời, và đáp lại họ phải có một cuộc sống tốt, như một phần hoa lợi nộp cho Thiên Chúa là chủ vườn nho. Nhưng chẳng những họ không làm thế, mà còn giết các sự giả của Thiên Chúa, cuối cùng giết luôn Ðức Giêsu Con duy nhất của Thiên Chúa.
Vì thế, Thiên Chúa quyết định trao Nước Trời cho một dân mới là Hội Thánh.
Thánh Phaolô dạy tín hữu Philipphê bí quyết để được bình an:
Ðừng lo lắng gì hết. Nếu có gì lo lắng thì khi cầu nguyện hãy trình bày hết cho Chúa.
Cứ theo lương tâm mà sống những gì mà mình nghĩ là tốt (chân thật, trong sạch, công chính, thánh thiện, tiếng tốt v.v.)
Thêm vào đó là thực hành những gì họ đã nghe Phaolô dạy và thấy Phaolô làm gương.
Chúa ơi
Lịch sử phải chăng chỉ là một sự tái diễn khôn ngoan
Là tấn thảm kịch được diễn tả lại mãi mãi muôn đời?
Ðây vườn nho của Chúa,
Mảnh đất này Chúa đã trao cho con.
Ðây vườn nho của Chúa,
Lòng, trí con và tự do này
Tất cả đều do Người ban tặng.
Con lại chiếm cho mình mà không biết thẹn;
Và để chiếm trọn gia tài,
Con lại quyết không nhìn Người Con thừa tự,
Dồn Người vào ngục tối sử xanh.
Thế là Chúa đã chết rồi!
Hoan hô con người!
Một mình sở hữu mọi của cải trần gian!
Vạn tuế con người,
Chỉ mình làm chủ kiếp người và lịch sử!
Chúa liền sai bao sứ giả đến
Ðể thu phần hoa lợi của tình yêu,
Ðem chia sẻ, an bình và công lý.
Thế mà tất cả lại bị đánh đập tơi bời,
Hoặc bị tống giam vào nơi ngục thất,
Hoặc bị tù đày hay là bị giết.
Giêrêmia bị ném đá, Isaia bị xé xác tan tành,
Roméro Giám mục bị bắn gục trước bàn thờ,
Cha Popieluko bị đánh nhừ tử và trấn sâu dưới nước,
Thân thể Cha Jarland đạn ghim lỗ chỗ như tổ ong bầu.
Ôi lạy Ðức Kitô!
Sao Người luôn bị ghét bỏ khinh khi,
Bị miệt thị và đóng đinh vào thập giá!
Xin ban cho con tâm hồn hiểu biết
Gương mù này của thập giá tình yêu.
Hiểu biết hơn sự ngoan cố của con người
Không cộng tác làm vườn nho của Chúa;
Xin cho con luôn nghiệm ra rằng:
Mọi viên đá nào bị loại bỏ
Ðều trở nên viên đá góc tường,
Cho thế nhân hưởng nguồn ơn cứu độ.
Ôi lạy Ðức Kitô phục sinh!
Ngài là Con Thừa Tự của Trời, Ðất mới
Xin mở mắt con để con thấy rõ
Qua gian lao của những bậc tôi trung,
Qua cái chết của các ngôn sứ,
Chúa đang thực hiện công trình của Chúa,
Công trình kỳ diệu còn khuất mắt chúng con.
(M. Hubaut, trích dịch bởi Fiches dominicales, năm A, trang 313-315)
Trong thư gởi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã đặt một câu hỏi rất cơ bản khiến mọi người chúng ta phải suy nghĩ: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7)
Sự sống: do Chúa trực tiếp ban
Sức khoẻ: cũng thế
trí khôn, một số khả năng: cũng thế
tiền bạc, tài sản: do Chúa ban qua trung gian cha mẹ, thân nhân.
…
Tóm lại, tất cả đều do Chúa ban. Ta đúng là một vườn nho được Chúa chăm sóc chu đáo ân cần.
Chúa chờ gì nơi ta?
– Chúa muốn ta nhận biết tất cả là bởi Ngài – Thế mà rất thường xuyên chúng ta coi những thứ đó là của riêng của chúng ta. Như thế, chúng ta cũng giống như những tá điền kia muốn chiếm đoạt vườn nho của chủ.
– Chúa cho chúng ta hưởng dùng tất cả những thứ đó, miễn là ta góp lại một phần nhỏ cho Chúa như là phần hoa lợi – Nhưng chúng ta chỉ biết xử dụng tất cả những thứ đó cho riêng mình. Không có phần nào cho tha nhân, không có phần nào cho Hội Thánh, không có phần nào cho xã hội.
“Xin cho con biết nhận mà cũng biết cho”, một câu hát rất hay. Nó vừa là một lời cầu nguyện mà cũng vừa là một lời nhắc nhở.
“Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7). Phải, tất cả những gì ta đang có đều là do ta lãnh nhận từ tay Chúa, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhưng không chỉ nhận, ta còn phải biết cho, bởi vì, trên căn bản, ta nhận không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho người khác nữa.
Thảm cảnh ngày nay là có nhiều người túng thiếu bên cạnh những người dư thừa, nhiều người kém cỏi bên cạnh những người giỏi giang.
Phải chi những người thừa thải và những người giỏi giang đó ý thức rằng những gì họ nhận lãnh cũng là nhận lãnh cho những người khác, và từ đó họ biết chia sẻ cho những người khác, thì thảm cảnh kia đâu còn.
Nhận lãnh cho nhiều người mà chỉ xử dụng cho riêng mình, đó là gian lận, là trộm cắp, là biển thủ, là tội!
Bài đọc I hôm nay có một câu than rất chua xót của Chúa: “Nào còn việc gì phải làm cho vườn nho của Ta mà Ta đã không làm!”
Câu chuyện có thực sau đây giúp ta phần nào hiểu được cảm thụ của Chúa:
Hai vợ chồng kia có 4 đứa con và hết mực yêu thương chăm sóc chúng. Dù không giàu có, nhưng vì muốn con cái mình có được tất cả những gì tốt nhất, họ đã làm tất cả những gì họ làm được: ngoài giờ làm việc chính thức ở sở làm, họ còn đi làm thêm vào ngày Chúa nhật và các buổi tối; vay tiền để mua một ngôi nhà rộng rãi để mỗi đứa có một phòng riêng tiện cho việc học; không ngại gởi con vào những trường tốt nhất mặc dù học phí rất cao; không bao giờ dám bỏ tiền đi du lịch, thậm chí không dám đi ăn cơm tiệm và đến các rạp hát để giải trí…
Thế rồi các đứa con dần dần lớn lên, đỗ đạt, lập gia đình, có việc làm tốt. Nhưng cũng dần dần từng đứa từng đứa ra riêng. Ðứa nào cũng chỉ lo cho cuộc sống riêng của gia đình chúng, không hề nhớ đến mẹ cha. Bây giờ hai vợ chồng già sống hiu quạnh trong căn nhà cũ. Họ đã than thở với một người đến thăm:
– Chẳng có việc gì có thể làm cho chúng nó mà chúng tôi đã không làm. Thế mà bây giờ chẳng có việc gì chúng nó phải làm cho chúng tôi mà chúng nó chịu làm!
Ngày xưa có một cô gái bị nhốt trong một cái chai, rất khổ sở. Một hôm có một vị thần tình cờ đi ngang qua, nghe tiếng than của cô: “Thật là khổ sở và nhục nhã phải sống trong cái chai này. Ước gì mình được sống trong một túp lều”. Vị thần động lòng, hóa phép cho cô ra khỏi cái chai và được sống trong một túp lều. Rồi vị thần ra đi. Cô gái mừng quá quên cám ơn vị thần.
Năm sau, vị thần trở lại để xem cô sống ra sao. Cô than: “Thật là khổ sở và nhục nhã phải sống trong cái túp lều này. Ước gì mình được sống trong một biệt thự rộng rãi”. Vị thần động lòng, hóa phép cho cô sống trong một biệt thự. Rồi vị thần ra đi. Cô gái mừng quá quên cám ơn vị thần.
Năm sau nữa, vị thần trở lại để xem cô sống ra sao. Cô than: “Thật là khổ sở và nhục nhã phải sống trong cái biệt thự này. Ước gì mình được làm một công nương có kẻ hầu người hạ”. Vị thần động lòng, hóa phép biến cô thành một công nương. Rồi vị thần ra đi. Cô gái mừng quá quên cám ơn vị thần.
Năm sau nữa, vị thần trở lại để xem cô sống ra sao. Cô than: “Thật là khổ sở và nhục nhã vì chỉ là một công nương. Ước gì mình được trở thành hoàng hậu được thần dân cả nước tôn thờ”. Vị thần bảo cô cứ yên tâm đi ngủ, sáng hôm sau sẽ được như ý. Sáng hôm sau, khi thức dậy, cô gái thấy mình bị nhốt ở trong cái chai như trước!
Chúng ta cũng giống như cô gái này. Nhưng rất may là Thiên Chúa không giống như vị Thần trong câu chuyện.
CT: Anh chị em thân mến
Thiên Chúa đã lấy vườn nho yêu quý của Ngài từ tay dân Do Thái bất trung để trao lại cho Hội Thánh, với hy vọng Hội Thánh sẽ làm cho nó sinh nhiều hoa trái. Trong tâm tình biết ơn Chúa, chúng ta hãy dâng lên Ngài những lời nguyện tha thiết.
CT: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã khiển trách dân Do Thái đã lãnh nhận vườn nho của Chúa nhưng không chịu nộp phần hoa lợi. Hội Thánh chúng con ngày nay cũng đang quản lý vườn nho Chúa và cũng chưa nộp hoa lợi cho đúng mức. Xin Chúa đừng trừng phạt Hội Thánh, nhưng xin giúp mọi thành phần Hội Thánh ý thức thiếu sót của mình để từ nay tích cực hơn trong bổn phận của mình. Chúa là Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.
– Kinh Tiền Tụng: nên dùng Kinh Tiền tụng Chúa nhật thường niên VIII, trình bày Hội Thánh là Vườn nho của Chúa.
– Trước kinh Lạy Cha: Kết hợp tâm tình với Ðức Giêsu, Người Con Thừa Tự duy nhất của Chúa Cha, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha lời kinh chính Chúa Giêsu đã dạy.
VII. Giải tán
Công việc hằng ngày của chúng ta chính là làm vườn nho cho Chúa. Chúng ta hãy nhớ nộp hoa lợi cho Ngài bằng những đóng góp cho Hội Thánh và xã hội, cũng như bằng những chia xẻ cho những anh chị em còn túng thiếu.
Suy Niệm
Hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta nghe dụ ngôn những tá điền.
Những tá điền này được chủ nhà cho canh tác vườn nho của mình,
để đến mùa hái nho họ giao lại cho ông hoa lợi.
Đây là một vườn nho được ông chủ quan tâm săn sóc.
Ông đã trồng, đã rào giậu, khoét bồn đạp nho và xây tháp canh.
Tiếc thay, khi ông chủ sai các đầy tớ đến để thu hoa lợi
các tá điền chẳng những không nộp, mà còn hành hạ họ và giết đi (c. 35).
Nhóm đầy tớ thứ hai cũng chịu chung số phận (c. 36).
Nhưng ông chủ vẫn không thất vọng trước sự độc ác của các tá điền.
Sau cùng, ông đã sai chính con trai mình đến với họ.
Đứa con thừa tự cũng chẳng được nể vì, bị lôi ra khỏi vườn nho và giết đi.
Khi kể dụ ngôn này Đức Giêsu muốn nói mình chính là người con ấy,
người Con của ông chủ vườn nho là Thiên Chúa.
Ngài tiên báo về cái chết sắp đến của mình
bởi tay những tá điền sát nhân là các nhà lãnh đạo Do thái giáo đương thời.
Cái chết của Đức Giêsu nằm trong chuỗi những cái chết của các ngôn sứ
là các đầy tớ đã được Thiên Chúa sai đến với dân Israel trong dòng lịch sử.
Tuy nhiên, cái chết ấy đặc biệt cao quý vì là cái chết của chính Người Con.
Hơn thế nữa, cái chết ấy không phải là một dấu chấm hết.
Nó là cánh cửa mở ra một trang mới của lịch sử,
không phải chỉ là lịch sử của dân tộc Israel, mà còn của cả nhân loại.
“Viên đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên viên đá đầu góc.
Đó là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (c. 42).
Giáo Hội sơ khai thích dùng trích dẫn trên đây của thánh vịnh 118, 22
để nói về việc Đức Giêsu bị loại trừ và được tôn vinh (x. Cv 4,11; 1Pr 2,7).
Bị loại bỏ là việc độc ác của con người,
còn trở nên viên đá góc là việc làm kỳ diệu của Thiên Chúa.
“Thu hoa lợi”, “nộp hoa lợi”, “sinh hoa lợi” (cc. 34, 41, 43).
Hoa lợi là điều mà ông chủ nhắm tới khi ông đầu tư cho vườn nho.
Ông đã không thu được hoa lợi gì từ những tá điền độc ác,
bởi đó ông đã lấy vườn nho lại, cho người khác làm để lấy hoa lợi.
Vườn nho bây giờ được hiểu là Nước Thiên Chúa.
Nước này không còn nằm trong tay giới lãnh đạo dân Do Thái nữa,
nhưng được trao cho một dân biết sinh hoa lợi (c. 43).
Dân mới ấy chính là Giáo Hội phổ quát,
trong đó gồm cả dân ngoại và những người Do Thái tin Đức Giêsu.
Chúng ta thuộc về Giáo Hội, thuộc về đoàn dân mới.
Chúng ta hãnh diện vì được trao phó vườn nho là Nước Thiên Chúa,
và lo lắng trước trách nhiệm phải sinh hoa lợi cho xứng ở đời này.
Làm thế nào để Giáo Hội nộp hoa lợi đúng mùa cho Chủ?
Làm thế nào để chúng ta không rơi vào tội của các tá điền đi trước?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
con thường thấy mình không có thì giờ,
nhưng đồng thời cũng thấy mình
lãng phí bao thời gian quý báu.
Nhiều khi con tự hỏi
mình thực sự làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày.
Xin cho con biết quý trọng từng giây phút
đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian,
để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa.
Xin cho con luôn làm việc như Chúa:
hăng say, tận tụy và vui tươi,
vâng phục, có phương pháp và đầy sáng tạo.
Vì quá khứ thì đã qua,
và tương lai thì chưa đến,
nên xin dạy con biết trân trọng giây phút hiện tại.
Xin cho con thấy Chúa
lúc này đang ở đây bên con,
và đang mời gọi con đáp lại tiếng của Ngài
bằng những hành động cụ thể.
Con xin hiến dâng Chúa giây phút này
như một hy lễ,
với tất cả những bất ngờ, đớn đau, thách đố.
Ước gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại
để hiện tại đưa con vào vinh cửu của Chúa. Amen.
(Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”)
Chuyện ngụ ngôn “Lừa và Sói” kể rằng: Một hôm, lừa đang gặm cỏ, bỗng thấy sói phi nước đại phóng tới. Lừa giả bộ đi khập khiễng. Khi sói đến gần, hỏi nó vì sao bị thọt chân, thì lừa trả lời:
– Vừa nãy tôi nhảy qua hàng rào bị xóc gai.
Rồi lừa đề nghị sói trước khi ăn thịt mình hãy nhổ gai ra đã, để khỏi bị gai đâm.
Sói tin lời, lừa giơ cao chân để sối soi mói kỹ lưỡng các móng chân lừa. Lừa thừa cơ đạp mạnh vào mõm sói rồi bỏ chạy.
Sói bị gẫy hết răng ôm đầu kêu la.
– Đáng đời ta! Cha mẹ nuôi ta thành kẻ chuyên ăn thịt, chứ đâu dạy ta làm thầy lang!
***
Nếu chuyện ngụ ngôn nào cũng cho chúng ta một bài học, thì chuyện ngụ ngôn “lừa và sói” muốn nói với chúng ta: kẻ nào không làm đúng công việc của mình sẽ lãnh hậu quả bi thảm.
Tin mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn “Những người thợ làm vườn nho”. Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, là những tài năng tinh thần, của cải vật chất, để chúng ta đem hoa lưọi về cho Người. Thiên Chúa còn tôn trọng chúng ta, Người để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc, theo sáng kiến riêng của mỗi người. Thánh Matheu viết: “Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa” (Mt 21,33). Người không ở đó để kiểm soát, canh chừng.
Khốn thay, có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông. Những tá điền ấy đã ngược đãi và sát hại các đầy tớ mà chủ sai đến. Thậm chí, đến lần thứ ba chúng giết luôn cả con trai ông. Họ làm như thế là để chiếm lấy gia tài của chủ. Hậu quả là: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông” (Mt 21,41).
Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để chúng ta phục vụ Chúa và an hem, chứ không phải để chúng ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.
Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của chúng ta, là để chúng ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để chúng ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.
Thiên Chúa trao phó cho chúng ta các tài năng là để chúng ta sinh lợi cho phần rỗi mình. Nếu chúng ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì người sẽ cất đi và tao cho kẻ khác. Nỗi bất hạnh ấy chỉ mình ta gánh chịu mà thôi!
Sẽ đến ngày chúng ta phải tường trình về công việc “vườn nho” mà Chúa đã trao phó. Sẽ đến ngày chúng ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch “hoa lợi” mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc chúng ta đang làm hôm nay. Đức Hồng Y Suhard đã nói: “chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm”.
***
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã trao cho chúng con làm công việc của Chúa, xin cho chúng con luôn biết mau mắn chu toàn.
Nếu Chúa gởi đến cho chúng con những ơn lành hồn xác, xin Chúa dạy chúng con biết sử dụng trong tinh thần biết ơn, và liên đới với an hem trong tinh thần chia sẻ, vì đó là con đang làm theo ý Chúa. Amen.
Dụ ngôn những thợ vườn nho phản loạn thuộc vào loại các dụ ngôn Chúa dùng để tỏ lộ thân thế của Ngài là Đấng Thiên Sai. Dụ ngôn này cũng cho thấy sự cô đơn bi thảm của Chúa Giêsu, khi bị dân Ngài loại bỏ.
Như thường lệ Chúa Giêsu cấu tạo dụ ngôn từ các thực tại mà Ngài nghe thấy trước mắt. Trong xứ Galilêa thời ấy, những điền chủ bỏ tiền vào việc trồng nho. Họ giao cho thợ làm vườn nho trông coi rồi trả lương. Đôi khi họ đi vắng xa, chẳng hạn như ra nước ngoài, và để quan lý mùa màng, họ sai những đầy tớ đến với những người thợ làm vườn. Theo luật Do Thái, nếu chủ một thửa đất chết đi mà không có người thừa kế, thì thửa đất ấy sẽ thuộc về người nào chiếm ngụ đầu tiên. Điều này làm cho chúng ta hiểu được lý luận của các thợ làm vườn nho: Đứa con thừa tự đây rồi, nào hãy giết nó đi và chúng ta sẽ chiếm được gia tài của nó. Quả thực, người con thừa tự mà chết, đất sẽ thành vô chủ và thuộc quyền những kẻ cư ngụ.
Qua dụ ngôn này và qua đoạn kế tiếp với hình ảnh viên đá góc bị thợ xây loại bỏ, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu rằng: Chính Ngài là người con bị bọn thợ làm vườn nho giết đi, chính Ngài là viên đá góc bị thợ xây loại bỏ.
Một cách quyết liệt, dụ ngôn đã đưa ra câu hỏi sau đây: Làm sao giới hữu trách của dân Do Thái lại đi tới chỗ loại bỏ Đấng thiên sai? Tôi xin thưa vì họ đã buông thả theo bản năng chiếm hữu của họ. Chủ vườn nho là Thiên Chúa, thủ lãnh duy nhất của họ. Thế nhưng tinh thần chiếm hữu của họ hệ tại việc áp đặt quan niệm riêng của họ về lề luật. Họ dùng lề luật để thống trị dân, họ còn có cao vọng dùng dân tộc của họ để lên ngôi thống trị thế giới. Các vị tiên tri đã đến để nhắn nhủ họ, nhưng tất cả đều bị họ giết chết, và sau cùng họ đã đi tới chỗ loại bỏ Đấng Thiên Sai, Con Một của Thiên Chúa. Thay vì phục vụ cho lề luật và dân chúng thì họ đã chiếm hữu, coi mình là chủ của lề luật và của dân chúng.
Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có thoát khỏi thái độ tự coi là người làm chủ của Tin Mừng, của chân lý hay không? Làm thế nào để phục vụ Phúc Âm mà không chiếm hữu? Tôi xin thưa bằng cách để cho tinh thần Phúc Âm thấm nhập vài cải tạo chúng ta, chứ chúng ta không đọc Phúc Âm, rồi sau đó ngồi sắp xếp Phúc Âm theo ý riêng của chúng ta. Ngày xưa các thầy thông luật đã lèo lái niềm trông đợi của dân chúng tới những ước vọng thống trị trần gian. Ngày nay cũng không thiếu gì những người muốn lợi dụng Phúc Âm để quảng cáo cho một hệ thống chính trị hay một quan niệm xã hội. Chúng ta không có quyền sử dụng và dùng Phúc Âm vào một mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu đi đến Đức Kitô. Nhiều người muốn chiếm hữu Phúc Âm để mưu cầu lợi ích riêng tư, để rồi cuối cùng đã đi đến chỗ phủ nhận con người Đức Kitô. Tin Mừng mời gọi chúng ta xây dựng cuộc sống trên viên đá góc là Đức Kitô, Đấng chúng ta tìm kiếm và yêu mến, chứ không nên lèo lái Ngài và Tin Mừng của Ngài vào những ý đồ riêng tư của mình.
Dụ ngôn “Vườn Nho Bị Chiếm Đoạt” chúng ta vừa nghe chứng tỏ cường độ chống đối Chúa Giêsu của nhóm Pha-ri-sêu đã lên đến cao trào, và Chúa Giêsu tỏ ra hết sức khẳng khái. Ngài không né tránh, ngược lại, Ngài đương đầu.
Ngài kể dụ ngôn này cho nhóm Pha-ri-sêu và Ngài hỏi: “Anh em nghĩ Đức Vua sẽ làm gì với những người tá điền sát nhân đó?” Họ trả lời: “Đức Vua sẽ tiêu diệt họ và cho người khác canh tác vườn nho”.
Họ rơi vào bẫy của Chúa Giêsu. Ngài thẳng thắn nói ngay vào mặt họ, những khuôn mặt đã chai lì trong sự chối từ của họ: “Tôi nói cho mấy ông biết, Nước Thiên Chúa, Thiên chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa mà trao cho một dân khác biết làm cho Nước ấy trổ sinh hoa lợi”. Chúng ta có thể hiểu rằng, chính nhóm Pha-ri-sêu là những kẻ sát nhân đó. Họ tưởng rằng giết người con của ông chủ, thì họ sẽ chiếm đoạt được vườn nho. Nhưng không dễ dàng như thế đâu! Vua sẽ lấy lại vườn nho và cho những người khác biết khai thác để sinh hoa lợi.
Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu nhắc đến những tiên tri đã bị dân Do Thái giết hại, đồng thời cũng tiên báo về cái chết của Ngài. Ngài sẽ bị giết, vì chính Ngài là Người Con của Chúa Cha sai đến để thu hoa lợi.
Ai là những kẻ được canh tác vườn nho, nếu chẳng phải là chúng ta? Chúng ta là “dân mới” của Chúa, đã được chọn “trong Đức Ki-tô và đã được tiền định làm nghĩa tử, tiền định làm cơ nghiệp riêng, theo kế hoạch của Người” (Ê-phê-sô 1,1…). Chúng ta hãy vui mừng cảm tạ Chúa, vì chúng ta được thừa kế gia nghiệp mà Chúa Cha đã định từ trước, đã ban cho chúng ta.
Đón nhận gia sản của Chúa, chúng ta có nhiệm vụ làm trổ sinh hoa trái cho Cha trên trời. Chúng ta đã làm gì? Và chúng ta đã làm được gì?
Chúa trao cho nhân loại vườn nho của Ngài, vườn nho đã được Ngài chu đáo tạo mọi điều kiện để trổ sinh hoa lợi: Ngài đã rào giậu, xây bồn đạp nho, xây cả tháp canh… Ngài cho nhân loại canh tác, nhưng thay vì nộp hoa lợi cho chủ, chúng ta lại muốn chiếm đoạt cả vườn nho. Tất cả phải quy về Chúa, là nguồn gốc và là chủ mọi sự, chúng ta lại tự tiện sử dụng cho riêng mình, không nghĩ đến Chúa.
Chúng ta tưởng rằng chỉ có dân Do thái mới giết Chúa, còn chúng ta thì tốt. Nhưng không, chúng ta cũng phản bội, tiếp sức cho những người vô đạo, ủng hộ những hành động bạo lực, vô luân của thế gian. Nhiều người trong chúng ta đã sống như thánh Phao-lô đã nói: “như kẻ thù của thập giá”; chúng ta tôn thờ thân xác và nhục dục, chạy theo tiền của, chà đạp lương tâm. Phải chăng chúng ta cũng là những tá điền sát nhân?
Chúng ta đang ở vào một thời điểm quan trọng của một thời mới. Thời con người tiến bộ về khoa học, và muốn chiếm đoạt vương quyền của Thiên Chúa. Con người của thế kỷ hai mươi mốt này, đa số muốn loại trừ Thiên Chúa, làm như Thiên Chúa cản bước tiến của họ. Họ muốn trở thành “siêu nhân” và muốn giết chết Thiên Chúa. Người chủ trương mạnh mẽ nhất là một triết gia người Đức, Ông Frederic Nietzsche. Ông đã tuyên bố: “Thiên Chúa đã chết rồi!” Lạ thay! Thiên chúa vẫn sống, còn ông đã gởi thân vào ba tấc đất và chỉ còn là một bộ xương. Ảnh hưởng của phong trào này vẫn còn là một thách thức đối với chúng ta là những người tin Chúa.
Nói thế không phải để chúng ta bi quan, ngược lại chúng ta phải dấn thân hơn, làm sao cho vườn nho của Chúa sinh hoa kết quả dồi dào hơn. Đây chính là một thách thức. Thời nào Giáo Hội cũng gặp những thách thức tương tự. Sau cùng, Giáo Hội vẫn sống, vì tin vào “tảng đá thợ xây loại bỏ, đã trở nên tảng đá góc tường”.
Chúng ta vẫn tin, mặc dù phải chạm trán với mọi trở lực.
“Anh em đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian”.
Ngài vẫn là Con Đường duy nhất dẫn chúng ta xuyên qua mọi thử thách, đưa chúng ta vào một dấn thân mới, thích hợp với hoàn cảnh xã hội hôm nay.
Ngài là Sự Thật, soi sáng bước đi yếu ớt của chúng ta.
Ngài là Sự Sống, chúng ta sống trong Ngài ngay trong hiện tại đầy bóng tối này. Niềm vui của Ngài sẽ tràn ngập tâm hồn những ai dám tin vào Ngài. Khuôn mặt bầm giập của Ngài trên thập giá sẽ trở nên khuôn mặt đáng yêu nhất trong trần gian này.
Đứa Con duy nhất của chủ vườn nho đã bị giết, nhưng nhờ đó, vườn nho được trao vào tay chúng ta. Và Đứa Con bị giết đó đã sống lại và vẫn sống. Ngài sống lại để nhập cuộc với chúng ta trong cuộc chiến cam go này cho sự thật, cho tình thương và cho hạnh phúc bất diệt.
Ngài nhập cuộc bằng một tấm bánh ban sự sống. Ngài sẽ vào trong mỗi người chúng ta, giúp chúng ta không nản chí khi thấy những cố gắng của chúng ta chỉ như giọt nước rơi vào đại dương của thế gian. Ngài mãi mãi là niềm hy vọng không bao giờ tàn lụi cho nhân loại, và chính chúng ta là hoa quả của vườn nho mênh mông của Chúa.
Ngày xưa Thiên Chúa đã chọn Israel là dân riêng của Ngài và coi dân Ngài như “vườn nho” được Ngài săn sóc cẩn thận. Ngài chỉ mong cho vườn nho đem lại nhiều hoa quả tốt tươi, nhưng vườn nho chỉ đem lại những trái nho dại đắng đót. Cả những người trồng nho cũng phản loạn, bất trung trong việc canh tác, nên Thiên Chúa đã trao vườn nho cho người khác.
Ngày nay, chúng ta cũng được coi là vườn nho mới của Chúa. Tất cả những gì Chúa ân cần săn sóc ban cho đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta được tự do hành động, sắp xếp công việc theo ý ta, nhưng ta phải chịu trách nhiệm về những việc làm ấy. Bổn phận của chúng ta là phải cố gắng làm việc cho tốt để đáp lại tình thương của Chúa đối với chúng ta.
Sách có chữ rằng:”Tiền xa ký phúc, hậu xa khả giới”: Xe trước đổ, xe sau phải coi chừng. Dân Do thái ngày xưa đã bất trung nên đã bị Thiên Chúa ruồng bỏ. Ngày nay chúng ta là dân Do thái mới được Thiên Chúa săn sóc giữ gìn, chúng ta phải tránh xa vết xe cũ kẻo phải hư đi, nhưng phải trung thành với những hồng ân Chúa ban, bằng cách làm cho ơn Chúa được sinh hoa kết quả dồi dào trong đời sống; đồng thời cũng phải biết chia sẻ cho người khác nữa.
+ Bài đọc 1: Is 5,1-7.
Tiên tri Isaia đã dùng “bài ca cây nho” để nói lên tình yêu của Thiên Chúa đã yêu dân Chúa như thế nào và dân Chúa đã đáp lại ra sao. Trong dụ ngôn này, “vườn nho” tượng trưng cho dân Israel. Thiên Chúa đã yêu thương và săn sóc dân Chúa như thế nào, Ngài chỉ muốn cho nó sinh ra những hoa trái ngon ngọt. Nhưng than ôi! trước sự yêu thương và săn sóc của Thiên Chúa, dân Chúa vẫn bất trung, bạc tình bạc nghĩa giống như vườn nho chỉ sinh ra những trái nho đắng đót.
Trước sự bất trung ấy, Thiên Chúa định bỏ mặc dân Israel cho quân thù giấy xéo, phải làm tôi ngoại bang. bị đi lưu đầy. Thực tế đã chứng minh: những sự việc này đã xẩy ra trong lịch sự dân Israel.
+ Bài đọc 2: Pl 4, 6-9.
Gặp những hoàn cảnh khó khăn, nhiều người tỏ ra xao xuyến ngã lòng, thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Philipphê hãy trút bỏ mọi lo âu và hãy tin tưởng vào Chúa để được bình an trong tâm hồn. Ngài đưa ra cho tín hữu bí quyết để đón nhận được sự bình an ấy:
+ Bài Tin mừng: Mt 21, 33-43.
Chúa Giêsu muốn dùng dụ ngôn này để cảnh giác các nhà lãnh đạo Do thái: vua chúa, luật sĩ, biệt phái và những tư tế. Thiên Chúa đã giao dân Chúa – là cây nho qúi – cho những nhà lãnh đạo Do thái, nhưng những người này lại khai thác cây nho để hưởng lợi riêng, bách hại những tiên tri, những sứ giả của Thiên Chúa và giết cả Con của Người.
Đồng thời Chúa Giêsu cũng cảnh cáo dân Do thái: đáng lẽ dân Do thái phải biết ơn Chúa khi gọi họ vào Nước Trời, và đáp lại họ phải có một đời sống tốt, như một phần hoa lợi nộp cho Thiên Chúa là chủ vườn nho. Nhưng chẳng những họ không làm thế mà còn giết luôn cả Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa.
Do đó, Chúa Giêsu kết luận:”Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.
Hãy sinh hoa trái tốt
Palestine là một vùng đồi núi thích hợp cho việc trồng nho, nên trồng nho là một nghề rất quen thuộc. Chúa Giêsu muốn dùng vườn nho để làm dụ ngôn. Vườn nho thường có hàng rào làm bằng hàng rào gai dầy để ngăn chặn heo rừng vào phá và kẻ trộm có thể vào ăn trộm nho. Mỗi vườn nho đếu có hầm ép rượu gồm hai cái chậu đục từ đá hay xây bằng gạch, cái này đặt cao hơn cái kia và nối với nhau bằng hai cái rãnh. Nho được ép từ chậu cao sẽ chảy xuống chậu thấp. Cái tháp trong vườn được dùng cho hai mục đích. Nó dùng làm chòi canh kẻ trộm khi mùa nho chín và làm chỗ ở cho người làm việc trong vườn nho.
Những người có nhiều đất thì thường đem đất đai cho mướn, giống như ở Việt nam xưa cho tá điền phát canh thu tô. Tiền cho mướn phải trả bằng ba cách: bằng tiền, bằng số trái cây nhất định hoặc bằng số bách phân của hoa mầu.
Hành động của những người trồng nho mướn cũng không phải là việc bất thường. Trong thời Chúa Giêsu, xứ Palestine ở vào thời kinh tế bất ổn, người làm công bất mãn và làm loạn. Hành động của những tá điền tìm giết con chủ vườn không phải là chuyện không xẩy ra.
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn những người làm vườn nho giết người, để trình bầy về sự tương phản giữa tình yêu của Thiên Chúa với sự độc ác của những kẻ bất trung vô ơn bội nghĩa với tình thương yêu ấy.
Theo từng chi tiết, vườn nho ám chỉ Nước Thiên Chúa hay là Nước Trời được trao cho dân Do thái. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Những người thợ làm vườn nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là các tiên tri, những sứ giả được Thiên Chúa sai đến đều bị ngược đãi hoặc bị giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, Nước Thiên Chúa được chuyển sang cho một dân tộc khác là Hội thánh, một dân phổ quát và Công giáo, sẽ lan tràn trên khắp thế giới.
Ý nghĩa câu chuyện thật rõ ràng đối với thính giả Do thái thời Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã chọn người Do thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết chết các tiên tri của Thiên Chúa và đóng đinh chính Con của Ngài chết trên thập giá.
Rồi Thiên Chúa kêu mời những người Do thái, là chúng ta đây, làm những tá điền mới trong vườn nho của Ngài, làm công dân mới trong Nước Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải nộp một loại “tiền thuế”, một loại “dịch vụ”, một loại “nợ” về ân huệ gia nhập dân Chúa.
Đọc dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được mấy bài học để thực hành trong đời sống hằng ngày:
– Lòng yêu thương và kiên nhẫn của Thiên Chúa.
– Sự tự do của con người trong cuộc sống.
– Phải sinh hoa trái tốt trong đời sống.
Suy nghĩ về thái độ của ông chủ vườn nho đối với các tá điền, ta thấy chủ vườn nho đã cố gắng tới ba lần để giúp các tá điền thay đổi đường lối. Ông sai hết người đại diện này đến người đại diện khác đến với họ. Ông không đến báo thù ngay khi người đại diện ban đầu bị ngược đãi, ông cho những người tá điền hết cơ hội này đến cơ hội khác để đáp ứng đòi hỏi của ông. Khi ông thấy rằng có kiên nhẫn hơn nữa cũng vô ích, ông ta mới ra tay xét xử đám này và bắt họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Cuối cùng, ông chủ lấy lại vườn nho và trao lại cho người khác.
Thiên Chúa cũng cư xử với chúng ta y như thế. Cha chúng ta trên trời vô cùng kiên nhẫn. Nhưng rồi sẽ đến lúc sự kiên nhẫn của Chúa sẽ nhường bước cho sự xét xử. Và chúng ta cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Ông chủ vườn nho đã sắp xếp mọi thứ: có hàng rào, có hầm ép rượu và tháp canh để giúp cho công việc được dễ dàng. Ông chủ không những giao công việc để làm, mà còn giao phương tiện để làm nữa. Ông chủ vườn để những người tá điền làm công việc theo sở thích của mình và chỉ đòi họ canh tác để đến mùa thu hoa lợi, chứ không phải là người độc đoán, ông như một vị chỉ huy khôn ngoan trao công tác rồi để cho họ làm.
Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tin của ông chủ. Những người tá điền cố tình thực hiện kế hoạch chống lại và không vâng phục chủ mình.
Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.
Tất cả mọi cái chúng ta có là do Chúa mà có, ngay cả con người chúng ta, mạng sống chúng ta. Chúng ta phải nói như thánh Phaolô:”Tất cả là hồng ân”. Trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đặt một câu hỏi khiến mọi người chúng ta phải suy nghĩ:”Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận” (1Cr 4,7).
Thật vậy, những ân phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết xử dụng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người Chúa ban cho một vốn liếng khác nhau không ai giống ai: người mười nén, người năm nén, người một nén… nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ là phải cố gắng làm sinh lời tùy theo sức của mình. Chúa chỉ đòi chúng ta cố gắng chứ không đòi kết quả.
Tóm lại, tất cả đều do Chúa ban. Chúng ta đúng là một vườn nho được Chúa chăm sóc ân cần.
Chúa chờ đợi gì nơi ta?
Chúa muốn chúng ta nhận biết tất cả là bởi Chúa. Thế mà chúng ta vô tình coi những thứ đó là của riêng ta. Như thế, chúng ta cũng giống như những tá điền muốn chiếm đoạt vườn nho của chủ. Nhiều khi chúng ta chỉ biết dùng những thứ ấy cho riêng mình mà không nghĩ tới tha nhân, Giáo hội và xã hội.
Ngoài ra, trong việc làm sinh hoa kết quả trong đời sống, tâm lý thông thường con người ta là muốn làm việc lớn, được nhiều lợi nhuận, được nhiều người biết đến. Nhưng trước mặt Chúa, mọi việc dù lớn dù nhỏ không quan hệ, miễn là chúng ta làm việc cho Chúa, vì Chúa và làm hết khả năng của mình.
Trong cuộc sống của chúng ta, chẳng mấy khi có việc lớn mà chỉ là những việc nhỏ, nhưng trung thành chu toàn được những việc nhỏ lại là việc khó như ngạn ngữ La tinh có câu: “Communia, non communiter”: làm công việc tầm thường nhưng bằng một cách phi thường. Thánh Têrêsa Hài đồng đã làm gương cho chúng ta về vấn đề này.
Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết không làm những việc nhỏ cho Ngài. Nếu không trung thành trong những việc nhỏ thì không ai tin tưởng mà trao cho chúng ta việc lớn hơn. Kinh thánh nói:”Ai trung thành trong việc nhỏ mọn cũng sẽ trung thành trong việc lớn” (Mt 25,21; Lc 19,17)
Truyện: Vị thiên thần dễ tính.
Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa. Vị thiên thần đồng ý. Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện:”Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”. Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng. Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được. Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khỏe cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khỏe ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.
Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tốt những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm:”Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thủy, một người cha hiền tận tụy với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.
Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân (Phạm Văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng CN, năm A, tr 212-213).
Ta nhắc lại một lần nữa lời thánh Phaolô:”Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận”(1Cr 4,7). Phải, tất cả những gì ta đang có là do ta lãnh nhận từ tay Chúa, một cách trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng không chỉ nhận, ta còn phải biết cho, bởi vì, trên căn bản, ta nhận không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho người khác nữa.
Con sông chỉ nhận nước vào mà không cho nước thoát ra thì không thể nhận thêm nước được, nó sẽ trở thành cái ao tù. Nó phải phân phối nước đi thì nó mới trở nên trong sạch được bằng cách nhận thêm nước khác. Nước Biển Chết là một thứ nước mặn chát, hôi thối vì chỉ nhận nước tư các sông chảy vào mà không có lối thoát ra, không phân phát cho cho các nhánh khác.
Có một mối tương quan biện chứng giữa nhận và cho: đã nhận thì phải cho đi, cho đi thì mới nhận vào được, nếu chỉ nhận mà không cho đi thì bị tắc nghẽn. Con người cũng thế, nếu chỉ biết nhận lãnh cho mình mà không biết chia sẻ cho nguời khác thì người đó chỉ biết co cụm lại, thay vì làm giầu thì chỉ làm cho mình nghèo đi. Những người chỉ biết co cụm lại không thông ra cho người khác thì không bao giờ có niềm vui vì người ta chỉ có thể có niềm vui khi mở lòng ra với người khác.
Truyện: Không biết chia sẻ.
Một người nghèo nọ được thần tài gõ cửa, nên không mấy chốc căn nhà của anh bỗng rộn lên tiếng cười của vợ con, họ hàng và láng giềng. Một cuộc sống xứng với nhân phẩm hơn đó là điều mà con người may mắm này đã cảm nhận được.
Tuy nhiên, may mắn nào cũng kéo theo những đòi hỏi, đòi hỏi thách thức nhất của người nghèo bỗng nhiên trở thành giầu có là: hãy chia sẻ với người khác. Không mấy chốc, bà con họ hàng từ các nơi đổ xô về căn nhà nghèo nàn của anh để xin giúp đỡ, trước là nhận họ sau là nhận hàng, đó là thói thường của người đời.
Kẻ trúng số hiểu được các tâm lý thông thường ấy, lúc đầu được thúc đẩy bởi lòng quảng đại, ông không ngần ngại chia sớt cho mọi người. Nhưng dần dà con số người đến xin giúp đỡ ngày càng gia tăng, cho đến một lúc cuộc sống riêng tư và êm ấm của gia đình hầu như bị xáo trộn triền miên. Người đàn ông không còn đủ kiên nhẫn nữa.
Một hôm, ông đề nghị với vợ:
– Hay là ta dọn đi một nơi khác.
Người vợ lắc đầu bảo:
– Mình có đi đâu thì thiên hạ cũng tìm tới.
Nhưng người chồng giải thích:
– Mình sẽ đi đến một chỗ không ai biết, mình sẽ đổi tên đổi họ, cũng không cho ai biết mình sẽ đi đâu, và sẽ cố gắng sống một cách đơn giản để không ai để ý đến mình nữa, ngay cả mấy đứa nhỏ cũng không cho biết mình đã trúng số.
Người vợ thắc mắc:
– Còn tiền bạc thì mình để ở đâu?
Chồng trả lời dứt khoát:
– Mình sẽ đem chôn giấu, mình sẽ sống như thể không hề trúng số, chỉ đem ra dùng khi nào cần thiết mà thôi.
Thế là cả gia đình đã dọn đến một nơi khác như dự kiến: họ lén lút ra đi nên không ai biết, tiền bạc đem chôn cất, con cái còn quá nhỏ nên không biết việc gì đã xẩy ra, họ sống nghèo nàn trong một khu ổ chuột. Ngày qua ngày, chính họ cũng quên rằng mình đã có lần trúng số, và khi họ chết thì tất cả mọi tài sản đều mất hết. Họ quên cả việc viết chúc thư cho con cái để trao lại tài sản cho chúng.
Câu chuyện ngụ ngôn trên đây nhắc cho chúng ta lời khuyên của Chúa Giêsu:”Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không”. Tất cả những gì Chúa ban cho ta, không phải chỉ dành cho riêng mình nhưng còn phải cho kẻ khác nữa. Chúng ta chỉ có được niềm vui khi chúng ta biết mở lòng ra với người khác. Còn niềm vui nào lớn hơn khi niềm tin được sinh lợi bằng những hoa trái của yêu thương, của phục vụ. Còn niềm vui nào lớn hơn khi chúng ta cảm nhận được Chúa đang đến qua từng cố gắng sống niềm yêu thương chia sẻ của chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống.
Bài Tin Mừng là một dụ ngôn và cũng là một ám ngôn, vì vừa hình dung vừa diễn tả sự thật, vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách tiên tri. Vườn nho ám chỉ nước Chúa, được trao cho dân Do Thái. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Những người thợ làm vườn nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là hàng loạt các ngôn sứ được Thiên Chúa phái đến đều bị ngược đãi hoặc giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, nước Chúa được chuyển sang một quốc gia khác là Hội Thánh, một dân phổ quát và Công giáo, sẽ lan tràn đến tất cả mọi quốc gia.
Chúng ta thấy dụ ngôn vừa có tính cách lịch sữ vừa có tính cách tiên tri, nghĩa là một đàng diễn tả những biến cố có thực, là những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử dân Do Thái, và thái độ của dân Do Thái đối với những ngôn sứ Chúa sai đến với họ. Đàng khác, nói tiên tri về đạo Chúa sẽ lan tràn khắp các dân không phải dân Do Thái. Hơn nữa, dụ ngôn cũng cho chúng ta thấy rõ thân thế và sứ mạng của Chúa Giêsu. Những người được sai đến trước Ngài, dù nổi tiếng đến đâu như Elia, Isaia, Giêrêmia, Gioan Tiền Hô… cũng chỉ là đầy tớ, còn Ngài mới là con trai duy nhất của Chúa Cha. Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay có nhiều điều đáng lưu ý và ghi nhớ. Sau đây chúng ta tìm hiểu một điều thôi, đó là các tá điền làm vườn nho. Bài Tin Mừng cho biết: ông chủ vừa trồng xong vườn nho, lẽ ra ông phải chăm bón để kiếm hoa lợi, nhưng ông lại cho các tá điền canh tác để đến mùa thu hoa lợi. Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông chủ. Chúng ta có thể áp dụng như sau: mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận phải đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.
Thực vậy, những ơn phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết sử dụng chúng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người được Chúa trao ban cho một vốn liếng khác nhau về nơi chốn, thời gian, khả năng, dịp tiện. Mỗi người, không ai giống ai cả, nhưng ai cũng phải làm lợi ra với số vốn liếng Chúa ban. Chúng ta không giống nhau về khả năng, nhưng có thể giống nhau về cố gắng. Thà cố gắng mà không có tài còn hơn có tài mà không cố gắng làm lợi cho Chúa.
Vậy mọi người chúng ta đều có một điều giống nhau, đó là đời sống để làm việc: việc lớn, việc nhỏ. Đa số chúng ta ai cũng muốn làm việc lớn, được nhiều lợi, được người khác biết đết. Nhưng Chúa bảo chúng ta hãy làm việc nhỏ. Chúng ta cần trung tín trong việc nhỏ bé trước đã. Chỉ khi nào chúng ta làm được những việc nhỏ bé, chúng ta mới có khả năng làm những việc lớn lao hơn. Những việc nhỏ chính là nấc thang đưa tới thành công lớn. Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết họ không làm được những việc nhỏ cho Ngài. Nếu chúng ta không trung thành trong việc nhỏ thì không ai tin tưởng trao cho chúng ta việc lớn hơn. Chúng ta hãy nhớ: không có việc gì quá nhỏ mà không đáng làm, và cũng không có việc gì quá nhỏ mà không đem lại lợi ích. Vấn đề là chúng ta có chịu làm hay không.
Có một câu chuyện ngụ ngôn, với tựa đề là “vị thiên thần dễ tính” kể lại như sau: Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền vạn năng của Thiên Chúa. Vị thiên thần đồng ý. Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện: “Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”. Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng. Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được. Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khoẻ cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khoẻ ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.
Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tới những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm: “Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời của mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thuỷ, một người cha hiền tận tuỵ với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.
Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.
Tóm lại, chúng ta hãy siêng năng làm việc để chu toàn bổn phận của mình. Chúng ta hãy tận dụng tài năng, sức lực, thời giờ, của cải Chúa ban để xây dựng sự nghiệp đời này và sự nghiệp đức tin trên nước trời.
Trước đây, có một nhân vật đã nhìn vào lịch sử nhân loại và đưa ra những con số như sau: từ năm 1496 BC, trước công nguyên, tới năm 1861 AD, trong 3358 năm, đã có 227 năm hoà bình, và 3130 năm chiến tranh. Như vậy cứ 13 năm chiến tranh, mới có một năm hoà bình. Trong ba thế kỷ, 16, 17 và 18 đã có 286 cuộc chiến xảy ra ở Âu Châu. Từ năm 1500 BC, trước công nguyên, tới năm 1860 AD, đã có hơn 8000 hiệp ước về hoà bình đã được ký kết.
Nhận xét trên đây về tình trạng của nhân loại đã được đưa ra hơn một thế kỷ rồi, chưa kể đến hai cuộc thế chiến, những cuộc chiến tranh kéo dài về ý thức hệ, chủng tộc và khủng bố ở thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Thế kỷ 20 sẽ được coi như thời đại mưu sát khổng lồ sinh mạng con người.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói dụ ngôn về vườn nho với những hành động bạo lực, bắt bớ, đánh đập, ném đá và giết người của các tá điền. Trong Cựu Ước, vườn nho là hình ảnh của dân Thiên Chúa, dân Do Thái, như đã được diễn tả trong sách tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất: “Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Irael”. Trong cái nhìn của Tân Ước, khi Chúa Giêsu nói với các thầy thượng tế và kỳ lão rằng: “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái”. Chúng ta phải nghĩ đến hình ảnh vườn nho là cả nhân loại, gồm tất cả mọi dân tộc trên thế giới.
William Barclay đã cắt nghĩa dụ ngôn những tá điền sát nhân trong ba chiều hướng: chủ vườn nho là Thiên Chúa, những tá điền làm thuê là những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái, những người đầy tớ và con trai ông chủ là những sứ giả, các tiên tri và Chúa Giêsu Kitô.
Thiên Chúa trong vai trò ông chủ vườn nho rất tin tưởng vào những tá điền để trao cho họ sứ mạng trông coi vườn nho. Ngài rất kiên nhẫn và bao dung, gửi các tiên tri và sứ giả đến qua bao nhiêu thế kỷ để nhắc nhở và khuyên bảo, nhưng cũng đã bị đối xử tàn bạo. Sau cùng, Ngài gửi chính con trai đến, rồi cũng bị giết chết. Đến lúc này mới là phán quyết của Thiên Chúa trao vườn nho lại cho các dân tộc khác.
Những người tá điền làm vườn nho trong bài Phúc Âm là những người bạo lực và ích kỷ. Họ đã giết bao nhiêu sứ giả và các tiên tri của Thiên Chúa gửi đến kêu gọi xây dựng một xã hội hoà bình, công chính và thương yêu.
Họ là những ai trong thời đại chúng ta? Họ là những chủ nhân làm giầu qua việc sản xuất vũ khí tối tân, thúc giục chiến tranh trên thế giới thay vì giúp đỡ những quốc gia kém mở mang chống lại nghèo đói, bệnh tật và bất công. Họ nâng đỡ những chế độ độc tài để bóc lột dân chúng vì quyền lợi riêng tư của họ. Họ là những chủ nhân bóc lột sức lao động của công nhân với tiền lương rẻ mạt ở những nước kém phát triển…
Năm 1492, Columbus thả buồm ra biển khơi. Ông đã cập vào quần đảo của người Hispaniola, giữa Cuba và Puerto Rico, với dân số 100.000 người. Thổ dân da đỏ niềm nở ra chào đón những nhà thám hiểm của Phương tây. Columbus đã nhìn thấy họ đeo những nữ trang bằng vàng và báo cáo cho vua Ferdinand biết rằng vũ khí của thổ dân này rất đơn sơ, chỉ cần một nhóm lính Tây Ban Nha được trang bị vũ khí cẩn thận, cũng có thể bắt ép họ làm nô lệ trong những mỏ vàng để phục vụ cho ngân khố của Tây Ban Nha. Trong 15 năm, sự cai trị của Tây Ban Nha đã làm giảm dân số của người Hispaniola từ 100.000 xuống còn 15.000 người. Những việc lao nhọc dã man đã đè nặng trên những người nô lệ của Tân Thế Giới này là một hình thức diệt chủng tàn bạo phát xuất từ những nền văn minh trọn hảo. Những người lính phục vụ trung thành đã kiếm được rất nhiều tài sản và đồn điền.
Một ngày kia, chàng thanh niên tên là Bartolomeo de las Casas đã nghe một bài giảng của linh mục dòng Đaminh. Ngài đã nói những sự đối xử tàn bạo đó đối với người khác là ghê tởm, trái với đạo lý của Kitô giáo. Những người địa chủ Tây Ban Nha cười nhạo ngài, nhưng de cas Casas đã ăn năn trở lại. Anh trao trả tự do cùng với đất đai cho những người nô lệ. Sau này, anh đi tu trở thành linh mục, và lễ thụ phong của linh mục Bartolomeo là thánh lễ truyền chức đầu tiên ở Tân thế Giới.
Bartolomeo phục vụ như một linh mục của những người cai trị Tây Ban Nha, nhưng ngài rất thương mến những người thổ dân da đỏ. Ngài nói rằng những hạt lúa mì đã được trồng xuống, chăm nom, và gặt hái bởi những người nô lệ đã tạo nên tấm bánh được bẻ ra trong Bí tích Thánh Thể. Khi ngài bẻ bánh, ngài nhìn thấy máu của những người nô lệ chảy xuống.
Qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải trở nên những người đầy tớ của Thiên Chúa. Phải xây dựng vườn nho bằng tình yêu thương và sự hy sinh chính thân mình cho tha nhân, như chính Ngài đã cầm lấy tấm bánh bẻ ra và nói: “Hãy cầm lấy mà ăn vì này là mình Ta”.
Để xây dựng trật tự xã hội phải lấy chính nhân phẩm con người như một tạo vật “giống hình ảnh của Thiên Chúa” làm trọng tâm như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Chính từ giá trị con người mới phát sinh ra giá trị xã hội, chứ không phải từ giá trị xã hội mà có giá trị con người”.
Phải trở về với những giá trị Kitô giáo để kiến tạo hoà bình. Một tác giả tôi không nhớ tên đã khuyên rằng: “Những giá trị giống như những dấu tay. Không ai giống nhau. Nhưng bạn để lại chúng trên mọi sự bạn hành động”. Phải, thời đại này đã để lại những giá trị của mình khắp nơi trên thế giới qua những nhãn hiệu Coca-Cola, kẹo chewing-gum, sách báo phim ảnh khiêu dâm, tự do tình dục, mãi dâm, nhạc rock’n’roll, rap-talk, tiền đôla, xe hơi Cadillacs, điện thoại cầm tay, computers, phi thuyền không gian, vũ khí nguyên tử, phá thai, an tử và trợ tử… Tất cả những điều này nói lên những giá trị của thời đại văn minh hiện nay. Thật đáng tiếc! Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi nền văn minh này là “văn hoá của sự chết”!
Vở ca nhạc kịch (opera) “Miss Saigon” là một bản phóng tác từ câu chuyện ngắn “Madam Butterfly” của văn sĩ John Luther Long vào năm 1898 đăng trên tạp chí “Thế Kỷ”. Một câu chuyện cũ được đưa vào trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong màn thứ nhất, một cô gái bán bar yêu một chàng lính Mỹ GI. Họ kết hôn với nhau, thề hứa yêu thương trọn đời. Hết nhiệm kỳ, chàng bó buộc phải rời nàng trở về Mỹ, nhưng hứa sẽ trở lại khi chiến tranh chấm dứt. Nàng là một cô gái nhà quê đơn sơ, vô tội và chịu đựng. Tình yêu của nàng dành cho chàng lính Mỹ hoàn toàn vô điều kiện, yêu thương hết lòng. Chàng lính Mỹ trở về nước mà không biết rằng vợ đang mang thai, một bé trai. Nàng âm thầm dấu kín và hết sức bảo vệ người con trong khi chịu đựng mọi tủi nhục.
Màn thứ hai giới thiệu một cơ quan phục vụ nhằm đi tìm những người lính Mỹ GI, cha của những trẻ em Mỹ lai. Khi câu chuyện tiếp diễn, chàng lính Mỹ đã kết hôn lần nữa ở Mỹ. Anh rất hạnh phúc, mặc dù anh vẫn mơ ước gặp lại Miss Saigon. Nhân viên thiện nguyện tìm được anh. Anh phải nói cho vợ biết về Miss Saigon và đứa con trai. Anh và vợ cùng đi về Việt Nam để sắp xếp vấn đề cho êm thắm. Miss Saigon đã gặp vợ của anh, cô quá xúc động không nói lên lời, chỉ xin vợ anh đưa đứa bé về Mỹ và tạo cho nó một đời sống mới mà nàng không thể làm được.
Màn kết thúc, Miss Saigon mặc quần áo đẹp cho con trai nàng, một đứa bé khôi ngô tuấn tú, để trao lại cho ba nó và mẹ ghẻ. Trong giây phút lưu luyến yêu thương nhất nàng hôn con và nói “Xin con đừng quên mẹ, sau này con sẽ hiểu”. Đứa bé trai bước đi theo ba nó và mẹ ghẻ với vòng tay mở rộng. Miss Saigon biến mất sau bức màn. Đùng!!! Một phát súng đã nổ. Nàng đã tự tử chết; chàng lính Mỹ GI chạy vội vào trong, ôm nàng lên, anh rên rỉ đau khổ…
Nhà văn John Bradshaw đã nói lên phản ứng cá nhân của ông đối với vở ca nhạc kịch Miss Saigon như sau: “Thình lình, ông bật khóc nức nở trong phần kết thúc của bi kịch, ông bắt đầu xúc động vì vở kịch đưa ông vào câu chuyện yêu thương và hận thù của chính cuộc đời ông, đám cưới đổ gẫy của cha mẹ ông, nỗi đau thời thơ ấu của ông. Ông bắt đầu đồng hoá mình với đứa bé vô tội trong số phận thảm thương do cuộc tình của cha mẹ. Ông nghĩ về những người ông đã yêu, và đặc biệt là người đã bỏ ông! Ông nhớ mãi nỗi đau thương đó! Nó giống như một người nào đó đã đóng một cái đinh sắt khổng lồ vào giữa lồng ngực của ông. Chỉ trong một giây phút ông có thể cảm thấy mất thở vì đã bị từ chối…”
Ông nghĩ về thân phận đau khổ của mẹ mình. Làm thế nào người phụ nữ 26 tuổi lại có thể một thân mình nuôi được ba người con. Bà lao động vất vả để nuôi gia đình. Bà lại là một người Công giáo đạo đức. Đức tin không cho phép bà tái hôn. Từ lúc cha của Bradshaw bỏ bà ra đi, bà chưa bao giờ đụng vào một người đàn ông nào. Bradshaw nói: “Thật là một đức tin khó tả! Một lời đoan hứa cho những niềm tin. Và cũng thật đau khổ khủng khiếp khi bà bị từ chối!”
Chúa Giêsu cũng đã bị từ chối. Đây là điều bản văn Thánh Kinh đã nói với chúng ta: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Chúa Giêsu đã trích lại lời Thánh Vịnh 118:22-23 để áp dụng cho chính Ngài.
Con người khi bị từ chối, bỏ rơi, thường rất tuyệt vọng và đau khổ như trong trường hợp của Miss Saigon. Chúa Giêsu cũng rất đau khổ, nhưng không tuyệt vọng. Trong cùng một hoàn cảnh giống như con người nhưng Ngài đã tìm thấy niềm hy vọng. Chúa Giêsu Đấng đã bị từ chối, nhưng đã trở nên Đấng Cứu Thế. Và Thánh Kinh kết luận: “Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”.
Đây chính là điểm mang lại niềm hy vọng cho tất cả những ai có cảm giác bị từ chối, và bị loại bỏ. Nó được tìm thấy ý nghĩa trong tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Nó mang lại hy vọng khi chúng ta đặt tất cả sự nghi ngờ và lo sợ trên bàn thờ của Thiên Chúa và xin Ngài chữa lành những thương tích của chúng ta.
Trong cuộc sống có rất nhiều sự bất công, đôi khi họ đạp lên cả lẽ phải và sự công chính để thực hiện mưu đồ điều ác của mình. Hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta về người chủ nhà làm mọi cách có thể để vườn nho của ông sản xuất trái nho. Rồi ông giao cho tá điền thuê, nhưng kết quả là một sự thiệt hại về cả vật chất lẫn tinh thần. Nó được thể hiện rỏ nhất khi chủ nhà sai những đầy tớ đến thu phần hoa lợi, thì những tá điền bắt các đầy tớ mà đánh đập và giết chết. Không những thế, khi chủ nhà lại sai chính con ông thì họ cũng giết cậu. Rồi Chúa Giêsu tuyên bố rằng ông chủ nhà sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và cho những tá điền khác thuê vườn nho mà họ biết chia phần hoa lợi.
Bài học trong câu chuyện thật dễ hiểu đối với thính giả thời Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã chọn người Do Thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết các sứ giả của Thiên Chúa và đóng đinh chính con của Ngài chết trên thập giá.
Ngày hôm nay, có nhữngtá điền mới trong vườn nho của Ngài, những công dân mới trong nước Thiên Chúa đó chính là chúng, những người được lựa chọn, những người được mời gọi. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải trả một loại “tiền thuê”, một loại “dịch vụ”, một loại “nợ” về ân huệ gia nhập dân Thiên Chúa. Những gì Thiên Chúa muốn không phải vì Ngài thiếu. Nhưng Ngài muốn là lòng biết ơn của ta đối với Đấng đã cưu mang, điều đó được thể hiện qua việc chúng ta tuân giữ lề luật của Ngài. Thực vậy, mọi sự mà các giới răn đòi hỏi chúng ta đều thuộc về Thiên Chúa, ngay như những hoa lợi mà chủ nhà đòi hỏi đã thuộc về của ông.
Khi Thiên Chúa trao vườn nho cho mỗi người, thì chúng ta phải có bổn phận đáp trả sao cho xứng đáng, có thể chúng ta đang là những tá điền gian ác, bất công… Chúng ta có những hành động đó vì những cám dỗ nơi của cải trần gian, danh lợi thế tục mà chúng ta bị che mờ, bị mù quang cứ lao đầu như con thiêu thân làm hết chuyện ác này đến điều ác khác
Các giới răn là tiền lương, tiền thuê, tiền thuế, nếu bạn muốn gọi là thế, mà chúng ta phải trả cho bổn phận trong nước Thiên Chúa. Ở đây, bây giờ, bạn hãy xin Ngài giúp bạn thi hành sự trả nộp đó, nghĩa là tuân giữ các lệnh truyền của Ngài với lòng biết ơn và yêu mến.
Lạy Chúa, xin cho chúng con nhận ra mình đang là những ta điền trong vườn nho của Chúa, để con biết được thân phận hèn mọn của mình mà ca tụng Chúa mỗi ngày trong đời con. Amen.
Đức Giáo Hoàng Piô X lãnh đạo Giáo hội công giáo từ năm 1904 đến năm 1914. Chúng ta kính nhớ Ngài về việc làm thăng tiến nền giáo dục công giáo, khuyến khích rước lễ lần đầu vào tuổi sớm hơn, và đời sống thánh thiện của Ngài. Ngày nay chúng ta tôn kính Ngài là thánh Piô X. Khi làm cha phó ở Tombolo, Italia, Ngài đã lưu ý đến nhiều thanh niên không biết đọc biết viết. Do đó họ không kiếm được địa vị hay công việc thích hợp. Vị giáo hoàng tương lai tuyên bố: “Chúng ta sẽ mở trường học đêm. Trường sẽ chia ra hai nhóm: một nhóm do các giáo viên địa phương hứơng dẫn, là nhóm khá hơn gồm những người đã biết đôi chút. Tôi sẽ phụ trách những người khó dạy hơn”. Các thanh niên rất thích thú, nhưng một người trong nhóm họ đã muốn biết, “làm thế nào chúng ta có thể trả chi phí về việc này?”. Vị linh mục thánh thiện giải thích: “Bạn đừng lo. Tiền học là chỗ bạn không chửi thề”.
Để tỏ cho chúng ta biết nước Thiên Chúa giống như cái gì, Chúa Giêsu vừa kể cho chúng ta về người chủ nhà làm mọi cách có thể để vườn nho của ông sản xuất trái nho. Rồi ông giao cho tá điền thuê. Khi chủ nhà sai những đầy tớ đến thu phần hoa lợi, thì những tá điền bắt các đầy tớ mà đánh đập và giết chết. Chủ nhà lại sai chính con ông thì họ cũng giết cậu. Rồi Chúa Giêsu tuyên bố rằng ông chủ nhà sẽ tru diệt bọn hung ác đó, và cho những tá điền khác thuê vườn nho mà họ biết chia phần huê lợi.
Ý nghĩa câu chuyện thật rõ ràng đối với thính giả thời Chúa Giêsu. Thiên Chúa đã chọn người Do thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết các sứ giả của Thiên Chúa và đóng đinh chính con của Ngài chết trên thập giá.
Rồi Thiên Chúa kêu mời những người ngoài Do thái, là bạn và tôi, làm những tá điền mới trong vườn nho của Ngài, làm công dân mới trong nước Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải trả một loại “tiền thuê”, một loại “dịch vụ”, một loại “nợ” về ân huệ gia nhập dân Thiên Chúa. Những thanh niên trong câu chuyện cảm thấy họ hàm ơn linh mục trẻ, thánh Piô X tương lai, vì họ được làm thành viên trong lớp học của Ngài. Tất cả điều Ngài đòi hỏi là họ không được kêu tên Chúa vô cớ. Trong khi làm cho chúng ta nên thành viên của nước Ngài, thì tất cả điều Thiên Chúa đòi hỏi là chúng ta tuân giữ lề luật của Ngài. Thực vậy, mọi sự mà các giới răn đòi hỏi chúng ta đều thuộc về Thiên Chúa, ngay như những hoa lợi mà chủ nhà đòi hỏi đã thuộc về của ông.
Trong giới răn thứ nhất, Thiên Chúa đòi hỏi phải tôn thờ sùng phụng. Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa ngay chính và qua thánh lễ này. Đấng tối cao có quyền đòi hỏi tôn vinh Ngài. Một ngày trong tuần đòi hỏi tôn vinh Thiên Chúa, Ngài đòi hỏi thánh hóa ngày đó như phần đền đáp lại của bổn phận trong nước Ngài. Thiên Chúa đã giao quyền bính cho cha mẹ và thầy dạy chúng ta. Bởi vì các Ngài thay mặt Chúa nên các Ngài đang được chia sẻ cho một số người được quyền năng tạo dựng những con người mới. Đấng tối cao che chở bảo vệ phái tính. Mọi của cải tùy thuộc Thiên Chúa. Trộm cắp là lấy mất cái gì nơi Thiên Chúa.
Các giới răn là tiền lương, tiền thuê, tiền thuế, nếu bạn muốn gọi là thế, mà chúng ta phải trả cho bổn phận trong nước Thiên Chúa. Ở đây, bây giờ, bạn hãy xin Ngài giúp bạn thi hành sự trả nộp đó, nghĩa là tuân giữ các lệnh truyền của Ngài với lòng biết ơn và yêu mến.
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.
Có một bản tin gây nhiều xúc động, đó là: một thanh thiếu niên phạm pháp được trả tự do lạm thời, nhờ hạnh kiểm tốt trong thời gian bị giam tù. Vì không còn cha mẹ, nên em này được một người trong vùng nhận làm con nuôi và em được đối xử tốt đẹp như năm người con khác trong gia đình, không chút kỳ thị phân biệt. Cha mẹ nuôi cũng như anh chị em mới trong gia đình cố gắng làm hết mọi sự để giúp em cảm nhận được tình yêu thương chân thành trong gia đình mới.
Một hôm, em được phép cha mẹ cho đi tham dự buổi tiệc sinh nhật của người bạn với lời nhắn nhủ là “hãy trở về nhà trước 11 giờ khuya”. Nhưng 11 giờ, rồi 12 giờ và 1 giờ sáng mà em vẫn chưa về. Mọi người trong nhà đã đi ngủ, chỉ trừ cha mẹ nuôi của em canh thức đợi em về với nhiều lo tắng, cuối cùng 2 giờ sáng em mới về tới nhà. Không một lời giải thích hay xin lỗi cha mẹ nuôi gì cả, nhưng phần cha mẹ nuôi chỉ trách nhẹ em một câu: “Này con, lần sau con ráng về đúng giờ để cha mẹ không phải lo lắng đợi chờ con nữa”.
Sáng hôm sau, khi mọi người trong gia đình kẻ đi làm người đi học, chỉ còn lại mẹ nuôi ở nhà, và bất ngờ, người thiếu niên này dùng một khúc sắt từ sau lưng tiến lại đập đầu người mẹ nuôi của em. Trước toà án, em không chút hối hận và người cha nuôi của em trong cơn đau khổ tột cùng chỉ thốt lên một lời: “Nó đã giết chết người vợ thân yêu của tôi. Đây là một hành động vô ơn tột cùng”.
Sự việc trên có thể giúp chúng ta phần nào hiểu thấu được dụ ngôn: “Người tá điền và vườn nho” được nhắc lại trong bài Tin Mừng hôm nay. Đó là thái độ vô ơn tột cùng của những người giữ vườn nho đáng trách, họ đã khước từ và giết hại những người làm mà ông chủ sai đến, rồi cuối cùng họ cũng giết chết luôn cả người con của ông chủ.
Thái độ vô ơn tột cùng này cũng là một lời cảnh tỉnh cho mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay, qua đó nhắc nhở chúng ta hãy xét lại thái độ sống của mình đối với Thiên Chúa. Như ông chủ vườn nho, Thiên Chúa nhân lành luôn thông cảm và tha thứ những lỗi tầm của chúng ta, một khi chúng ta biết trở về với Ngài.
Mặt khác, Thiên Chúa trao cho chúng ta công việc chăm sóc vườn nho của Ngài, để chúng ta làm trổ sinh hoa trái tốt đẹp. Hơn nữa, Ngài đã không ngừng sai những sứ giả của Ngài đến để nhắc nhở chúng ta tích cực chăm sóc vườn nho cho Ngài. Vì thế chúng ta phải có bổn phận biết ơn là dâng lại cho Ngài những điều tốt đẹp, những chùm nho ngon ngọt của việc làm tốt mà chúng ta phải thực hiện trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng, có thể thay vì dâng cho Ngài những chùm nho ngon ngọt, thì chúng ta lại có những thái độ thù nghịch chống lại Ngài, chống lại Thiên Chúa, chống lại những sứ giả mà Ngài đã sai đến với chúng ta.
Vậy, thử hỏi còn điều gì có thể làm được cho con người mà Thiên Chúa đã không làm để cứu rỗi, để hướng dẫn và ban hơn nữa cho chúng ta hay không?
Chính Ngài đã sai Con Một Ngài đến cứu rỗi chúng ta, và hy vọng con người sẽ không giết hại Con Ngài, nhưng sẽ tắng nghe lởi Người: “Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe lời Ngài”.
Thật thế những kẻ vô tâm, bất nhân bất nghĩa đã làm việc bất nhân, thay vì dâng lời cảm lạ Thiên Chúa thì lại giết chết Con Thiên Chúa, giết chết người ân nhân vĩ đại của cuộc đời mình. Xin Chúa ban ơn biến đổi cho mỗi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết tắng nghe liếng Chúa trong mọi hoàn cảnh sống của cuộc đời.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ khẩn cầu Chúa ban cho mỗi người chúng con được bắt chước gương sống của Mẹ: Khiêm tốn, vâng phục, chấp nhận thưa “xin vâng” với Chúa trong mọi nghịch cảnh của cuộc đời: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Ngài truyền”. Nhất là chúng con xin Mẹ giúp cho mỗi người chúng con luôn luôn sống trong thái độ biết ơn Thiên Chúa, cố gắng hết mình để làm vườn nho mà Ngài đã trao phó cho mỗi người chúng con, để cây nho được trổ sinh nhiều hoa trái tốt đẹp. Xin Thiên Chúa gìn giữ mỗi người chúng con trong đức tin mà giờ đây chúng con cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.
Dân Do-thái khi đã an cư lạc nghiệp nơi vùng Đất Hứa, họ gia công làm việc để gầy dựng cuộc sống. Chấm dứt thời gian lữ hành ăn Manna, thịt chim cút và uống nước suối. Giữa vùng đất sỏi đá, họ đã dùng sức lao động để chuẩn bị những mảnh vườn trồng nho mầu mỡ. Có lẽ nhiều người trong chúng ta không quen thuộc với hình ảnh vườn nho, dàn nho hay cây nho nặng trĩu trái ngọt. Tiên tri Isaia ví von dân Do-thái như vườn nho được chăm tưới: Người rao giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn và trông mong nó sinh qủa nho nhưng nó lại sinh toàn nho dại (Is 5, 2). Người chủ trồng loại nho tốt trong vườn, nhưng kết qủa dàn nho chỉ sinh ra toàn trái nho dại.Isaia ngụ ý nói về đời sống bất trung của dân Do-thái. Một dân tộc được Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc và bảo vệ ân cần, nhưng rồi dân chúng chứng nào cứ tật đó. Họ đã từ bỏ giáo huấn của Chúa để chạy theo lối sống của các dân ngoại.
Đọc qua lịch sử của dân Do-thái, chúng ta nhận biết họ là một dân tộc rất thông minh, ưu tú và giầu có. Họ đã trải qua biết bao thăng trầm để kiến thiết đất nước. Các dân tộc chung quanh luôn quấy phá, nên chẳng mấy khi dân chúng được sống trong yên hàn. Xưa kia, Thiên Chúa đã hứa ban cho họ một dòng dõi đông đúc và trường tồn, nếu họ biết trung thành giữ các huấn lệnh và giữ lời giao ước. Suốt dọc lịch sử của hơn một ngàn năm trước Đấng Cứu Thế xuất hiện, họ đã bị lưu đầy xa xứ nhiều lần, làm nộ lệ cho ngoại bang và thành thánh bị phá đổ tan hoang. Chúa vẫn yêu thương và kiên nhẫn qui tụ họ lại như gà mẹ ấp ủ con dưới cánh. Thời gian tín trung chẳng kéo dài được bao lâu, họ lại buông bỏ rời xa Chúa. Hậu qủa của sự bất trung: Giờ đây ta tỏ bày cho các ngươi biết ta sẽ làm gì đối với vườn nho ta; Ta sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị gầy đạp (Is 5, 6). Dân lại bịlưu đầy tản mác, không phải chỉ trong thời của tiên tri Isaia, nhưng vận số kéo dài cho đến ngày nay. Chẳng mấy khi quê hương xứ sở nước Do-thái được sống trong an bình.
Tiên tri Isaia diễn tả tâm tình của người chủ đau buồn vì bị con cái từ chối và làm cho thất vọng. Như cha mẹ đã rên siết trong lời than van mà Isaia đã thốt lên: Nào còn việc gì phải làm cho vườn nho ta, mà ta không làm? Không có sự buồn phiền sầu não nào hơn là bị bỏ rơi. Như gươm sắc thâu qua trái tim và ghi hằn vết sâu thương tích. Tiên tri đã diễn tả sự vô ơn của một đoàn dân đã hưởng nhờ biết bao ơn lành phước lộc, nhưng đã không sinh ra được hoa qủa mong muốn. Như Giáo hội mẹ cũng mang nhiều tâm tư sầu khổ khi thấy con cái mình thơ ơ lãnh đạm trong việc sống đạo và hành đạo. Nhiều Kitô hữu không còn là muối là men để ướp đời, nhưng đã bị đời ô nhiễm làm biến chất không sinh hoa qủa tốt lành.
Câu truyện dụ ngôn trong bài phúc âm hôm nay tường thuật về việc ông chủ vườn nho cho các tá điền thuê để kiếm hoa lợi. Một vườn nho được chuẩn bị kỹ lưỡng và xếp đặt đầy đủ các phương tiện để giúp thu hoặch mùa màng tốt. Tá điền là những người làm công quản lý gia sản của chủ. Họ đã gian tham lạm dụng sự tin tưởng của ông chủ để làm những việc thất đức. Người làm vườn đã xua đuổi, giết chóc và hãm hại các đầy tớ của chủ được sai đến để thu phần hoa lợi. Vì ác tâm, họ đã giết cả người con thừa tự. Họ tìm cách tiêu diệt tất cả hậu duệ để chiếm đoạt gia sản. Họ đã vào hùa với nhau: Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em, chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó (Mt 21, 38). Lời Chúa trong dụ ngôn này đã động chạm tới các thượng tế và kỳ lão trong dân, vì họ hiểu rằng Chúa Giêsu đang ám chỉ tới cách cư xử thất trung của họ và cha ông họ đối với các tiên tri xưa.
Chúa Giêsu tóm lược sự thất nghĩa của dân tộc Do-thái qua câu truyện dụ ngôn ngắn. Đúng thế, không tiên tri nào được quí trọng nơi quê hương xứ sở của mình. Hầu hết các tiên tri chịu chung một số phận là bị ghét bỏ, đánh đập, xua đuổi và bị giết hại. Chúa Giêsu là vị tiên tri cao cả và là Con Thiên Chúa, rồi đây họ cũng không tha. Nhưng dù họ có loại bỏ và giết đi, Chúa Kitô đã trở nên viên đá góc của tất cả mọi niềm tin và hy vọng. Chúa Giêsu phán: Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh: Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc, đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta (Mt 21, 42). Đá góc quan trọng nối hai bờ tường lại giáp mối với nhau. Chúa Giêsu là trung gian kết hợp con người trong yêu thương.
Trên thế giới hiện nay, có tổng cộng trên 2.18 tỉ Kitô hữu trong mọi tầng lớp. Ba nhóm Kitô hữu đông nhất là Giáo Hội Công Giáo, Tin Lành và Chính Thống Giáo Đông Phương. Có trên 1.09 tỉ người là Công Giáo, nửa số Kitô hữu còn lại cũng đều tin vào Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ. Giống như muôn hoa đua nở, có rất nhiều giáo phái khác nhau trong cùng một niềm tin. Các giáo phái thuộc các tôn giáo luôn củng cố và phát triển mỗi ngày vững mạnh hơn. Sự đối thoại liên tôn giúp các phe nhóm trong các Giáo Hội sát gần lại với nhau hơn. Tuy có nhiều khác biệt về tổ chức, chủ trương, cách hành lễ và thực hành đạo, nhưng chung qui về một tảng đá góc, đó là Chúa Giêsu Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhận định để trả lời cho đại diện của nhóm những người Tin Mừng rằng: “Tôi không quan tâm tới việc cải đạo những anh chị em Tin Mừng qua đạo Công Giáo. Tôi muốn người ta tìm được Chúa Giêsu ngay trong cộng đồng của họ. Hiện có rất nhiều đạo lý mà chúng ta không thể nhất trí với nhau được. Nhưng chúng ta hãy để ý tới việc biểu lộ tình yêu của Chúa Giêsu.”
Một thực tế là niềm tin và cuộc sống con người khó thay đổi để trở nên một, nhưng vẫn có thể hiệp nhất với nhau trong Chúa Kitô.Cách tốt nhất là chấp nhận nhau và thăng tiến mỗi ngày để giúp nhau sống tốt hơn.Chúng ta không thể đi ngược lại thời gian. Giáo Hội trải qua rất nhiều giai đoạn thăng trầm trong cơ cấu tổ chức. Niềm tin vào Chúa Kitô được tỏ bầy dưới nhiều hình thức rất đa dạng. Mỗi người được mời gọi vào làm vườn nho cho Chúa. Lúc nào vườn nho cũng cần được vun xới để sinh hoa kết qủa tốt. Mỗi chúng ta đều là tá điền có bổn phận chăm lo một phần nhỏ trong vườn nho nhà Chúa. Khi mùa thu hoặch đến, chúng ta hy vọng sẽ thu phần hoa lợi tốt qua đức bái ái yêu thương và biết chia sẻ cuộc sống. Dụ ngôn về các tá điền thách đố chúng ta tiếp tục trung thành làm việc trong vườn nho Chúa, đừng để bị thất vọng. Chúng ta sẽ cung cấp những hoa trái tốt lành bằng gương sáng trong cuộc sống.
Thánh Phaolô khuyến khích chúng ta đặt niềm tin tưởng vào Chúa Kitô trong khi cầu nguyện. Không thể cậy dựa vào sức riêng của mình, nhưng với ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta sẽ gặt hái được nhiều thành qủa trong đời sống tâm linh: Anh em thân mến, anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ (Phil 4, 6). Đừng lo lắng nhưng hãy phó thác vào sự quan phòng của Chúa. Chúa tiếp tục dẫn dắt lịch sử nhân loại. Thiên Chúa đã gieo những hạt giống tốt vào tâm hồn của chúng ta, Ngài mong mỏi hạt giống sẽ sinh ra nhưng bông hạt quí báu. Đừng để sinh ra những trái nho chua vô bổ của sự hiềm thù, ganh ghét, ích kỷ và vô ơn.
Lạy Chúa, chúng con là môn đệ, là tá điền và là chứng nhân của Chúa, xin cho chúng con biết nỗ lực tiến bước và làm phát sinh những hoa qủa tốt là lòng bao dung, sự quảng đại, yêu thương và tha thứ.
Chuyện ngụ ngôn “Lừa và Sói” kể rằng: Một hôm, lừa đang gặm cỏ, bỗng thấy Sói phi nước đại phóng tới. Lừa giả bộ đi khập khiễng. Khi Sói đến gần, hỏi nó vì sao bị thọt chân, thì Lừa trả lời:
– Vừa nãy tôi nhảy qua hàng rào bị xóc gai.
Rồi Lừa đề nghị Sói trước khi ăn thịt mình hãy nhổ gai ra đã, để khỏi bị gai đâm.
Sói tin lời, Lừa giơ cao chân để Sói soi mói kỹ lưỡng các móng chân Lừa. Lừa thừa cơ đạp mạnh vào mõm Sói rồi bỏ chạy.
Sói bị gẫy hết răng ôm đầu kêu la.
– Đáng đời ta! Cha mẹ nuôi ta thành kẻ chuyên ăn thịt, chứ đâu dạy ta làm thày lang!
Nếu chuyện ngụ ngôn nào cũng cho chúng ta một bài học, thì chuyện ngụ ngôn “Lừa và Sói” muốn nói với chúng ta: Kẻ nào không làm đúng công việc của mình sẽ lãnh hậu quả bi thảm.
Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn “Những người thợ làm vườn nho”. Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa giao phó cho một vườn nho, là những tài năng tinh thần, của cải vật chất, để chúng ta đem hoa lợi về cho Người. Thiên Chúa còn tôn trọng chúng ta, Người để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc, theo sáng kiến riêng của mỗi người. Thánh Matthêu viết: “Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa”. Người không ở đó để kiểm soát, canh chừng.
Khốn thay, có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông. Những tá điền ấy đã ngược đãi và sát hại các đầy tớ mà chủ sai đến. Thậm chí, đến lần thứ ba chúng giết luôn cả con trai ông. Họ làm như thế là để chiếm lấy gia tài của chủ. Hậu quả là: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”.
Thiên Chúa ban muôn hồng ân, là để chúng ta phục vụ Chúa và anh em, chứ không phải để chúng ta tìm tư lợi, danh vọng, và khoái lạc cho bản thân.
Thiên Chúa kiên nhẫn trước những xúc phạm, lầm lỗi của chúng ta, là để chúng ta có cơ hội hoán cải, chứ không phải để chúng ta ngày càng sa lầy trong tội lỗi.
Thiên Chúa trao phó cho chúng ta các tài năng là để chúng ta sinh lợi cho phần rỗi mình. Nếu chúng ta không biết sử dụng ơn lành Chúa ban, thì Người sẽ cất đi và trao cho kẻ khác. Nỗi bất hạnh ấy chỉ mình ta gánh chịu mà thôi!
Sẽ đến ngày chúng ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó. Sẽ đến ngày chúng ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc chúng ta đang làm hôm nay. Đức Hồng Y Suhard đã nói: “Chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm”.
Công trình cứu độ của Thiên Chúa kỳ diệu biết bao. Từ trước khi tạo dựng, Thiên Chúa đã dự liệu cho loài người được hạnh phúc vĩnh cửu và Ngài đã lo cho loài người đến cùng, Ngài không hề tiếc chi với con người. Ngài đã tạo dựng lại còn cứu chuộc. Khi con người phản nghịch cùng Chúa, Ngài đã chuẩn bị một chương trình để Con Một Ngài là Đức Kitô đến với loài người, tỏ mình và dạy dỗ nhân loại cho biết về mầu nhiệm Ba Ngôi tình yêu, về bổn phận của con người đối với Thiên Chúa và đồng loại.
Thiên Chúa đã chọn dân Do thái làm dân riêng để chuẩn bị cho việc cứu độ mọi người mọi thời. Ngài đã sai các tiên tri đến dạy dỗ họ, Ngài giữ gìn, ban ơn, tỏ ra ưu ái họ hơn những dân tộc khác. Tuy nhiên, có nhiều lúc họ không lo đáp trả tiếng Chúa, không tuân giữ lời Chúa dạy, không trả phần huê lợi mà Chúa đã đầu tư vào rất nhiều. Chúa đã thể hiện bao nhiêu là tình thương, nhẫn nại đối với dân tộc Israel nhưng nhiều kẻ vẫn cứng lòng, không đáp ứng lời mời gọi của Chúa. Nhất là khi thời gian viên mãn đã đến, Thiên Chúa đã sai Con Một ngài xuống thế vì nhân loại. Đấng Emmanuel đầy tình yêu thương, rất nhân từ với mọi người lại bị kẻ cầm quyền trong dân ganh ghét và giết đi. Tuy nhiên, sự cứng lòng cố chấp của họ không phá được chương trình cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa. Tuy không phải toàn dân Do thái tin theo Chúa Giêsu, nhưng từ dân tộc Do thái, Chúa chọn được một số người làm nền tảng xây dựng dân tộc mới là Hội thánh Chúa. Cả dân Do thái và dân ngoại đều được hưởng ơn cứu chuộc nhờ tin vào Đức Kitô và những tín hữu này trở nên chứng nhân cho Chúa giữa mọi người.
Chúa Giêsu muốn các kỳ lão và thượng tế nhận thức được dụ ngôn mà biết lỗi và sửa đổi, nhưng sau khi nghe dụ ngôn, họ vẫn tiếp tục sai lầm và còn chống đối muốn giết Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chương trình của Chúa không vì thế mà bế tắc. Lúc Chúa Giêsu chết trên thánh giá lại là lúc Ngài chiến thắng Ác thần và sự chết, tự nơi Ngài có sức mạnh cứu độ muôn dân. Hòn đá mà những người thợ xây loại ra, đã trở nên viên đá góc tường, là nền tảng của Hội thánh. Những người cầm quyền dân Do thái từ chối Chúa Giêsu, nhưng Thiên Chúa đã cho Người trở nên Đá Tảng xây nên toà nhà của Chúa. Đó là việc kỳ diệu trong công trình cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Sau khi Chúa sống lại, Chúa đã giao vườn nho lại cho người xứng đáng hơn canh tác. Những người tin vào Ngài hợp thành dân riêng là Hội thánh Chúa, họ được thừa hưởng lời Giao Ước Chúa ban cho con cháu Abraham, được trở nên con Chúa trong Đức Giêsu Kitô Phục sinh.
Những sai phạm và cố chấp của các vị lãnh đạo do thái xưa là lời cảnh tỉnh cho chúng ta hôm nay. Chúng ta có cộng tác với ơn chúa chưa? Nhiều lúc chúng ta nhận ra ý chúa nhưng vì không muốn khổ cực nên chúng ta từ chối, thoái thác. Chúng ta có biết cậy trông, phó thác vào Chúa hay cứ làm theo kế hoạch riêng nhằm đem lại lợi lộc trần gian mà thôi. Mỗi người đều được Chúa mời vào một vị trí trong chương trình của Ngài. Chúng ta nên ý thức về nhiệm vụ của mình, ra sức phát triển khả năng Chúa ban và phục vụ theo ý Chúa muốn. Nén bạc chúa trao, tôi có sử dụng đúng mức không, có nộp đủ phần hoa lợi cho Chúa không? Có khi nào tôi chôn giấu nén bạc Chúa trao mà không sinh lợi, hay có sinh lợi nhưng quên nguồn gốc của nén bạc đó, không biết ơn chúa đúng mức! Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, kiên nhẫn vẫn chờ đợi tôi, nhắc nhở và ban ơn thêm. Nhưng đến một lúc nào đó, Ngài sẽ gọi tôi đi trình diện và thưởng phạt công minh.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con hết lòng tin tưởng vào chương trình của Chúa thực hiện mỗi người chúng con, chúng con sẽ luôn vâng theo thánh ý Chúa để cuộc đời chúng con luôn gắn bó mật thiết với Chúa. Chúng con sẽ sống khiêm tốn, biết tìm dịp lắng đọng tâm hồn nhiều hơn để có thể nhận ra tiếng Chúa trong cuộc sống. Xin Chúa cho chúng con biết luôn tỉnh thức, không tự mãn với những việc đạo đức của mình nhưng tin tưởng, trông cậy, phó thác vào chương trình của Chúa. Chúng con nguyện sống theo gương Chúa về lòng tin yêu phó thác và phục vụ để mọi người nhìn vào chúng con có thể nhận ra tình thương của Chúa mà được ơn cứu độ.
Nhân cơ hội các thượng tế và các kỳ lão chất vấn Chúa Giêsu về việc Người lấy quyền nào mà đánh đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ, Chúa Giêsu đã dùng ba dụ ngôn để nói với các ông như những lời cảnh giác về sự cứng lòng của họ. Dụ ngôn tá điền gian ác là một trong ba dụ ngôn ấy.
Như đã nói ở trên, câu chuyện dụ ngôn Đức Giêsu kể trực tiếp nhắm vào các thượng tế và kỳ lão. Họ là những người được Thiên Chúa trao phó trách nhiệm chăm sóc vườn nho là dân riêng của Chúa. Nhưng thay vì mang hoa lợi về cho chủ là Thiên Chúa, họ lại muốn chiếm đoạt hoa lợi ấy cho mình. Vì thế, những sứ giả được Thiên Chúa sai đến là các ngôn sứ đều bị họ giết chết. Cuối cùng ngay cả Người con duy nhất của Thiên Chúa là Đức Giêsu cũng bị họ đóng đinh và treo Người trên cây thập giá. Họ nghĩ rằng chỉ khi làm như thế họ mới chiếm đoạt được trọn quyền thừa kế và hưởng lợi lộc từ vườn nho.
Ý nghĩa cụ thể của dụ ngôn là như thế. Nhưng chúng ta cần nội tâm hóa câu chuyện để có thể lắng nghe được tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho chính mình chứ không phải chỉ cho những người xa lạ ở vào những thời đại xa xưa.
Như ông chủ trao phó vườn nho cho các tá điền, Thiên Chúa cũng tín nhiệm trao phó cho ta chăm sóc những vườn nho của Người. Vườn nho ấy là chính cuộc đời của riêng ta, là những cộng đoàn mà ta phải phục vụ, là những trách nhiệm mà ta phải hoàn thành.
Như ông chủ vườn nho đã dựng hàng rào, đã xây tháp canh để bảo vệ vườn nho, đã lắp đặt máy ép nho để giúp cho công việc của tá điền được dễ dàng, nhờ đó họ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Khi trao cho ta những nhiệm vụ, Thiên Chúa cũng ban cho ta phương tiện là những ân huệ cần thiết để chúng ta thực hiện tốt công việc được trao.
Trao vườn nho rồi, ông chủ đi xa một thời gian. Ông tin tưởng các tá điền sẽ làm cho vườn nho sinh hoa kết trái. Thiên Chúa cũng tin tưởng ở chúng ta khi trao cho chúng ta những trách nhiệm. Người không trực tiếp giám sát chúng ta như những anh công an. Người cũng không phải là một ông chủ chuyên chế áp đặt tự do và giết chết sáng kiến của chúng ta. Người tôn trọng chúng ta như những người trưởng thành và để chúng ta tự do làm việc. Người tin tưởng ở tinh thần trách nhiệm của chúng ta.
Sau một thời gian vắng nhà, khi trở về, ông chủ sai các đầy tớ đến thu hoa lợi của vườn nho. Sẽ tới ngày chúng ta cũng phải tính sổ với Thiên Chúa về những công việc được trao phó. Người hỏi chúng ta về hoa trái của những công việc đã được trao. Người hỏi chúng ta về tinh thần trách nhiệm.
Những người tá điền đã giết chết các tôi tớ của ông chủ. Hành vi này tượng trưng cho sự khước từ Thiên Chúa của chúng ta. Có thể chúng ta đã từng loại trừ Thiên Chúa vì nghĩ rằng Người là một ông chủ hà khắc, hay đòi hỏi, hay quấy nhiễu con người.
Thay vì tiêu diệt các tá điền, ông chủ lại sai thêm các đầy tớ khác. Điều này nói lên lòng nhân từ và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Người không trừng phạt chúng ta khi chúng ta phản nghịch và chống lại Người, nhưng Người ban cho ta nhiều cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm và để trả lời cho tiếng gọi của Người.
Không nhận ra được lòng nhân từ của ông chủ, những người tá điền lại giết chết cả những anh đầy tớ này. Đó chính là thái độ cố chấp sống trong tội lỗi của chúng ta. Tội lỗi là sự bất tuân lệnh của Thiên Chúa, là cố ý chống lại Thiên Chúa, cố ý đi ra khỏi con đường của Người.
Không ngã lòng, ông chủ còn sai con trai mình đến với những người tá điền. Và họ cũng giết chết luôn cả anh con trai này. Họ bàn bạc với nhau rằng: Phải giết anh con trai thừa tự này đi để chúng ta chiếm lấy vườn nho. Thì ra tội lỗi của những người tá điền không phải là không làm cho vườn nho sinh hoa kết trái mà là muốn chiếm đoạt vườn nho của ông chủ. Thiên Chúa đã dùng mọi phương cách để cứu vớt con người. Người đã chơi ván bài chót là liều hy sinh chính Con Một của Người để thức tỉnh con người. Nhưng con người luôn muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời mình để có thể sử dụng cuộc đời, để định đoạt mọi sự theo ý mình muốn. Chúng ta làm việc này việc khác không phải vì quyền lợi của Thiên Chúa mà chỉ vì ích lợi của bản thân mình. Chúng ta muốn chiếm đoạt những gì thuộc về Thiên Chúa để làm của riêng mình.
Chính trong ý nghĩa nói trên mà câu chuyện dụ ngôn cũng là câu chuyện của đời thường và câu chuyện của ngày xưa cũng là câu chuyện của ngày hôm nay. Hàng ngũ lãnh đạo Do thái giáo ngày xưa đã loại trừ và đã giết chết Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để chỉ cho họ con đường về Trời. Vụ án giết Con Thiên Chúa vẫn còn kéo dài qua mọi thời cho tới ngày hôm nay. Và lý hình giết con Thiên Chúa có thể là mỗi người chúng ta. Điều đó thật là đáng sợ.
(Suy niệm của Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng)
Bài Tin Mừng là một dụ ngôn và cũng là một ám ngôn, vì vừa hình dung vừa diễn tả sự thật, vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách tiên tri. Vườn nho ám chỉ nước Chúa. Những người làm vườn nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là hàng loạt các ngôn sứ được Thiên Chúa phái đến đều bị ngược đãi hoặc giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, nước Chúa được chuyển sang cho một quốc gia khác là Hội Thánh, một dân phổ quát và Công Giáo, sẽ lan tràn đến tất cả mọi quốc gia.
Chúng ta thấy dụ ngôn vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách tiên tri, nghĩa là một đàng diễn tả những biến cố có thực, là những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử dân Do Thái, và thái độ của dân Do Thái đối với những ngôn sứ Chúa sai đến với họ. Đàng khác, nói tiên tri về đạo Chúa sẽ lan tràn khắp các dân không phải dân Do Thái. Hơn nữa, dụ ngôn cũng cho chúng ta thấy rõ thân thế và sứ mạng của Chúa Giêsu. Những người được sai đến trước Ngài, dù nổi tiếng đến đâu như Ê-li-a, Ê-li-sa, I-sa-i-a,
Giê-rê-mi-a, Gio-an Tiền Hô… cũng chỉ là đầy tớ, còn Ngài mới là con trai duy nhất của Chúa Cha. Như vậy, bài Tin Mừng hôm nay có nhiều điều đáng lưu ý và ghi nhớ. Sau đây chúng ta tìm hiểu một điều thôi, đó là các tá điền làm vườn nho.
Bài Tin Mừng cho biết: ông chủ vừa trồng xong vườn nho, lẽ ra ông phải chăm bón để kiếm hoa lợi, nhưng ông lại cho các tá điền canh tác để đến mùa thu hoa lợi. Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền đã không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tín nhiệm của ông chủ. Chúng ta có thể áp dụng như sau: mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận phải đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.
Thực vậy, những ơn phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết sử dụng chúng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người được Chúa trao ban cho một vốn liếng khác nhau về nơi chốn, thời gian, khả năng, dịp tiện. Mỗi người, không ai giống ai cả, nhưng ai cũng phải làm lợi ra với số vốn liếng Chúa ban. Chúng ta không giống nhau về khả năng, nhưng có thể giống nhau về cố gắng. Thà cố gắng mà không có tài còn hơn có tài mà không cố gắng làm lợi cho Chúa.
Vậy mọi người chúng ta đều có một điều giống nhau, đó là đời sống để làm việc: việc lớn, việc nhỏ. Đa số chúng ta ai cũng muốn làm việc lớn, được nhiều lợi, được người khác biết đến. Nhưng Chúa bảo chúng ta hãy làm việc nhỏ. Chúng ta cần trung tín trong việc nhỏ bé trước đã. Chỉ khi nào chúng ta làm được những việc nhỏ bé, chúng ta mới có khả năng làm những việc lớn lao hơn. Những việc nhỏ chính là nấc thang đưa tới thành công lớn. Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết họ không làm được những việc nhỏ cho Ngài. Nếu chúng ta không trung thành trong việc nhỏ thì không ai tin tưởng trao cho chúng ta việc lớn hơn. Chúng ta hãy nhớ: không có việc gì quá nhỏ mà không đáng làm, và cũng không có việc gì quá nhỏ mà không đem lại lợi ích. Vấn đề là chúng ta có chịu làm hay không.
Có một câu chuyện ngụ ngôn, với tựa đề là “vị thiên thần dễ tính” kể lại như sau: Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền vạn năng của Thiên Chúa. Vị thiên thần đồng ý. Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện: “Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”. Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng. Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được. Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khỏe cũng giả biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khỏe ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.
Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tốt những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm: “Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời của mình, hàng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thủy, một người cha hiền tận tụy với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thât vui tươi hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.
Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.
Tóm lại, chúng ta hãy siêng năng làm việc để chu toàn bổn phận của mình. Chúng ta hãy tận dụng tài năng, sức lực, thời giờ, của cải Chúa ban để xây dựng sự nghiệp đời này và sự nghiệp đức tin trên Nước Trời.
(Suy niệm của P. Trần Đình Phan Tiến)
Thưa quý vị, thưa các bạn, Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN A hôm nay (Mt 21, 33-43) rất thú vị, dù nội dung dụ ngôn thật bất nhân, mang tính bất lương, mất nhân tính. Nhưng câu kết của Đoạn Tin Mừng hôm nay là một đoạn kết có hậu, đầy tràn sự nhân đạo, ôn hòa. Vì sao, thưa quý vị? Thưa vì, “Chúa Giêsu- Đấng Cứu Thế, đứng trên mọi quyền lực”.
Theo đó, Đoạn Tin Mừng hôm nay, tuy có 11 câu, nhưng có thể chia làm 3 phần:
Phần 1: Nội dung dụ ngôn “ Dụ ngôn vườn nho và những tên tá điền ác nhân “ (Mt 21, 33- 39)
Phần 2: Vấn đề Chúa Giêsu đặt ra và sự trả lời của người Do-thai. (Mt 21, 40 – 41)
Phần 3: Sự trả lời của Chúa Giêsu và ý nghĩa nhân hậu của vấn đề. (Mt 21, 42 -43)
Như vậy, ý nghĩa đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một bài học vô cùng cao siêu từ Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giàu lòng xót thương, nhưng không nhu nhược. Bởi vì, Người đứng trên mọi quyền lực. Điều đó được biểu lộ tại câu 43 của Tin Mừng thánh Mat-thuê.
Qua đoạn nầy, chúng ta xem lại các đoạn (Mc 12, 1- 12); (Lc 20, 9-19), sẽ thấy điểm khác biệt của Tin Mừng Matthuê, thánh Mat-thuê thường sử dụng từ “Gia Chủ” để chỉ về Thiên Chúa. Đây là từ ngữ được đặc trưng cho Matthuê, hầu đề cập đến một Nước Thiên Chúa siêu nhiên.
Khởi đi từ bài đọc I (Is 5, 1- 7), chúng ta thấy Thiên Chúa nhân từ yêu thương dân tộc Israel, chi họ Giu-đa. Hình ảnh vườn nho là một sự thân thương, một hoạt cảnh thiết thực trong đời sống dân Do-thai, được Thiên Chúa yêu thương, săn sóc, vỗ về.
Bài đọc II thánh Phao-lô (Pl 4, 6 – 9) chỉ dạy cho chúng ta biết, chúng ta đừng lo lắng, nhưng hãy cậy trông tin tưởng vào Thiên Chúa, vì bình an của Thiên Chúa vượt lên trên tất cả, sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Đức Kitô – Giêsu. Vì những điều tốt là những điểm cần chú ý và đã được nhìn thấy từ thánh nhân thì nên thực thi.
Trở về Đoạn Tin Mừng hôm nay, tại câu 34, thánh Matthuê cho chúng ta thấy, Nước Thiên Chúa đang đến gần: “Gần đến mùa hái nho, ông cho đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi” (c34). Qua câu nầy, thánh Matthuê đã dùng một mệnh đề tạo hình dáng cho người đọc thấy được đặc tính Nước Thiên Chúa sắp đến gần. Điều nầy sẽ xuất hiện ở câu 43 là câu mấu chốt của vấn đề. Ở câu 35; Đánh đập các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, thật là sát nhân. Điều nầy theo nghĩa bóng là giết hại các tiên tri, bất chấp sự giáo huấn của họ. Nhưng theo nghĩa đen, thì cảnh tượng nầy chính là nằm ở lòng tham của phàm nhân. Chúng ta thấy, hình ảnh nầy, theo nghĩa đen thì không xa lạ gì với tâm trạng tội lỗi của nhân loại. Người làm công và tá điền cũng thường dấy lên để chống lại chủ. Tuy nhiên cũng có những chủ nhân bất công, hà khắc, nhưng cũng có những chủ nhân tốt. Dù sao, tâm lý tá điền và người làm công, nếu như không có nhân đức, thì lòng tham dễ nổi lên. Thánh Matthuê đã đưa thêm vào so với Mc và Lc, là giết người và ném đá điểm nầy. Câu 36 -37, chúng ta thấy thánh Matthuê đã tóm tắt cảu Mc, loại bỏ tính từ “được yêu thương” dành cho “Người Con” của ông chủ. “… Ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “chúng sẽ nể con ta”. (c 37). Nhưng khi bọn tá điền vừa trông thấy người con trai thì hè nhau nói: “Nào đây, là đứa thừa tự đây rồi!”. “Chúng ta giết quách cho xong, và chiếm đoạt gia tài nó.” (c 38). Và rồi chúng cũng giết luôn người con trai của ông chủ. (c 39). Như vậy, chúng ta thấy sự tàn ác theo nghĩa đen là do của cải vật chất, sự ganh tỵ, sự ích kỷ, sự tàn ác chính là hệ quả của lòng tham.
Ở câu 39 thánh Matthuê đã đưa vào một ngụ ý là Chúa Giêsu sẽ chịu “tử nạn” ở bên ngoài thành Giêrusalem “quăng ra bên ngoài vườn nho và giết đi”.
Câu 40-41, Matthuêu cho thấy cuộc đối thoại mà trong đó sự trả lời gay gắt, mạnh mẽ của các kinh sư, nhằm lên án sự ác nhân, thất đức của các tá điền bất lương. Chính là những hành động của dân Israel đã hành động đối với Thiên Chúa là Ông Chủ của họ. Về mặt nhân bản tự nhiên, khi nghe câu chuyện như vậy, con người vẫn tỏ thái độ phán xét vội vàng, tưởng chứng như một quan tòa chí công.Khi phàm nhân nghe thấy, hoặc chứng kiến một sự thiếu công bằng nào đó, họ dễ nổi giận ngay và đưa ra một “phán quyết”, nhưng Thiên Chúa thì không “trả đũa”.
Nhưng ở câu 42, được trích từ Thánh Vịnh 118, 22- 23, được Chúa Giêsu dùng để bảo họ. Các ông chưa từng bao giờ đọc câu nầy trong Kinh Thánh sao?: “Tảng đá bị thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Nhưng quan trọng là ở câu 43. “Bởi đó, Tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (c 43).
Ý nầy chính là sự đóng góp quan trọng của thánh Matthue, làm cho phần giải thích của dụ ngôn “vườn nho và những tá điền bất nhân” nầy thêm phong phú, nhằm hé mở ra một ngụ ý về lịch sử cứu độ của Thiên Chúa qua Đấng Cứu Thế. Những người được sai đến là các tiên tri, ngôn sứ, nhưng đều bị người Israel giết hại, cuối cùng lên đến cực điểm là chính Chúa “GIÊSU”, với tư cách là “người con trai”.
“Nước Thiên Chúa” có thể được hiểu như là một điều gì đó như một sở hữu hiện tại của sự bảo bọc và ân sũng bởi Thiên Chúa, nhưng những động từ ở quá khứ và tương lai có thể làm cho câu nầy trở nên một ý nghĩa như một “Lời Hứa” ban phước vào ngày thế mạt hco mọi dân tộc. Theo đó, nơi Thiên Chúa không có sự trừng phạt nào, bởi đã có Chính Đấng Cứu Chuộc. Điều nầy có thể được minh định bởi câu nói của Chúa Giêsu: “Ta đến không phải để lên án thế gian. Nhưng để cứu chuộc thế gian. Hầu thế gian nhờ Ta mà được sống. Sống dồi dào và sung mãn” (Ga 3, 17); (Ga 12, 47); (Ga 10, 10).
Từ “dân” (c 43) ở đây chỉ Giáo Hội, được Mattheu đưa lên như là sự mở màn cho những người Israel có lòng tin và những người cải tà qui chánh, qui hồi về niềm tin, thức tỉnh, giác ngộ. Nhận ra Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Những ai mà cùng nhau xây dựng dân tộc mới của Thiên Chúa. Như vậy, Giáo Hội Công Gíao là một tiêu biểu, một sự cứu độ phổ quát cho hết mọi người, đó là dân Do-thái thực thụ.(không hiểu như nghĩa đen).
Theo đó, sự kết luận của đoạn Tin Mừng hôm nay, thì ôn hòa hơn là nội dụng dụ ngôn. Nói cách khác là đoạn kết có hậu. Thiên Chúa không tiêu diệt kẻ gian ác, nhưng “Lời Hứa” bị lấy đi ban cho người khác. Đó là cách xử lý của Thiên Chúa, còn chúng ta thì sao?
Lạy Chúa Giêsu, Đấng cứu độ trần gian,là Đấng chính Chúa Cha sai đến, Chúa là Đấng đứng trên hết mọi quyền lực. Nơi Chúa không có sự thua cuộc, không có hận thù, chỉ có tha thứ và yêu thương, vì đó là NƯỚC THIÊN CHÚA, nhưng Chúa sẽ lấy lại, nếu như kẻ lãnh nhận bất xứng, chứ Chúa không tiêu diệt. Vì sự trừng phạt của Chúa, chính là thu hồi “ân sủng” là “Lời Hứa” yêu thương ngọt ngào như sữa và mật ong. Xin thương ban cho con người biết nhận ra chân lý ấy mà sám hối ăn năn, hầu đáng lãnh nhận ơn tha thứ./. Amen.
Câu hỏi gợi ý:
Suy tư gợi ý:
Bài Tin Mừng hôm nay là một dụ ngôn có ý nói bóng gió về tình trạng đã, đang và xảy ra trong dân Do Thái, mà trước mắt có sự góp phần của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái là âm mưu giết Đức Giêsu. Kết cục được diễn tả trong câu cuối của bài Tin Mừng là: Dân Do Thái được Thiên Chúa dành ưu tiên trong việc vào Nước Thiên Chúa, nhưng vì họ tỏ ra không xứng đáng, nên chỗ ưu tiên của họ được nhường cho những dân tộc khác.
Thiên Chúa đã yêu quí dân Do Thái, điều này được diễn tả trong bài đọc I: Thiên Chúa cưng chiều dân Do Thái như một người có một vườn nho mà anh ta rất quí: “Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho” (Is 5,2a). Anh quí nó đến nỗi làm cho nó tất cả những gì mà anh nghĩ nó cần nó thích: “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?” (5,4). Anh ta kỳ vọng rất nhiều vào vườn nho đó, nhưng vườn nho đã làm anh thất vọng: “Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại” (5,2b). Một vườn nho như thế thì người chủ nên làm gì cho nó? Thất vọng vì vườn nho ấy, anh ta đã “hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo (…) biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm; truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa tưới xuống” (5,5-6). Vườn nho đó được I-sai-a xác định: “Vườn nho đó chính là nhà Ít-ra-en; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, chính là người xứ Giu-đa. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (5,7).
Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục khai triển chủ đề “vườn nho” của bài đọc I (Is 5,1-7), với những ám chỉ sau đây: 1. Vườn nho ám chỉ dân Do Thái; 2. Ông chủ đất: Thiên Chúa; 3. Bọn tá điền: Các lãnh tụ tôn giáo Do Thái; 4. Các tôi tớ của chủ đất: Các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến; 5. Người con trai của ông chủ: Đức Giêsu; 6. Các tá điền khác: Dân ngoại.
Toàn bài dụ ngôn nói lên diễn tiến trong lịch sử dân Do Thái: Thiên Chúa chọn Do Thái là dân riêng của Ngài giữa mọi dân tộc. Ngài muốn họ là cầu nối giữa Ngài với mọi dân tộc khác và với toàn nhân loại. Để thực hiện mục đích ấy, Ngài đã sai các ngôn sứ đến để dạy dỗ, sửa đổi và cho họ biết ý định của Ngài. Nhưng lời nói của những ngôn sứ này thường không lọt lỗ tai các lãnh tụ tôn giáo Do Thái, vì “trung ngôn nghịch nhĩ”, “lời thật mích lòng”. Và kết quả là các ngôn sứ này đều bị ném đá chết dưới tay các lãnh tụ tôn giáo Do Thái. Chính ngôn sứ Ê-li-a đã phải than phiền: “Khi cầu nguyện với Thiên Chúa, ông đã tố cáo dân Ít-ra-en rằng: Lạy Chúa, các ngôn sứ của Ngài, chúng đã giết chết; bàn thờ của Ngài, chúng đã phá huỷ. Chỉ còn sót lại một mình con, thế mà chúng cũng đang tìm hại mạng sống con” (Rm 11,3; x. V 19,10.14).
Cuối cùng, Thiên Chúa sai chính Con Một của mình đến cũng để làm công việc ngôn sứ ấy, thì cũng bị họ giết chết một cách dã man và thảm hại. Dân Do Thái vì hèn nhát trước quyền lực nên cũng hùa theo các lãnh tụ của họ. Vì thế, dân Do Thái đã bị Thiên Chúa loại bỏ, mất quyền ưu tiên đối với Nước Trời. Và Nước Trời do Đức Giêsu thiết lập – gồm những người tin theo Đức Giêsu – bao gồm những người mà người Do Thái gọi là dân ngoại, gồm đủ mọi dân tộc trên thế giới.
Còn dân Do Thái đã bị đào thải khỏi lịch sử: tháng 9 năm 70, Titus, lúc ấy làm thống soái quân đội Rôma (sau làm hoàng đế năm 79-81), đã bao vây và chiếm Giê-ru-sa-lem, giết rất nhiều người Do Thái. Kể từ đó, Do Thái bị mất nước, và dân Do Thái phải tản mác khắp nơi trên thế giới. Đến thế chiến thứ hai, dân Do Thái tại Đức đã bị Hitler giết tới 6 triệu người. Mãi đến năm 1947, sau gần 19 thế kỷ bị mất nước, Do Thái đã lập quốc trở lại tại vùng đất cũ, nhưng kể từ đó, họ phải chiến tranh liên tục với dân Palestin và Ai Cập cho đến nay.
Khi tôi học Cựu Ước, giáo sư dạy Kinh Thánh cho tôi thường nói: “Israel là Giáo Hội, Israel là chính tôi”. Vì thế, nếu bài dụ ngôn kia có thể áp dụng cho dân Do Thái, thì cũng có thể áp dụng cho Giáo Hội và cho chính bản thân tôi.
Do Thái giáo là một tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập qua các tổ phụ, Mô-sê và các ngôn sứ, với hàng giáo phẩm là các tư tế, lê-vi và các ráp-bi. Thiên Chúa đã trực tiếp can thiệp vào lịch sử của dân tộc, đã ra tay giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách thống trị Ai Cập, đã đích thân ban hành luật pháp cho họ, đã trực tiếp chỉ định những vì vua cai trị họ… Ngay cả Ki-tô giáo hiện nay cũng chưa được Thiên Chúa trực tiếp can thiệp như thế. Có ngôn sứ nào trong Ki-tô giáo oai hùng như I-sa-i-a, khi ra lệnh cho dân Do Thái điều gì thì đều nói: “Thiên Chúa là Chúa các đạo binh phán như thế” (x. Is 1,24; 3,15; 5,9; 10,24; 14,22-24; 17,3; 19,4; v. v…) Vì thế, dân Do Thái đã rất có lý khi nghĩ rằng tôn giáo của mình do Thiên Chúa thiết lập ắt sẽ vĩnh cửu, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng lịch sử cho chúng ta thấy họ đã lầm. Do Thái giáo đã tàn lụi, và được thay thế bằng Ki-tô giáo. Có thể nói, Do Thái giáo chính là tiền thân của Ki-tô giáo.
Ki-tô giáo hiện nay cũng đang tự hào là tôn giáo duy nhất do chính Thiên Chúa thiết lập, là tôn giáo có giá trị hơn hết mọi tôn giáo trên thế giới, nên mọi Ki-tô hữu đều tin tưởng nó sẽ tồn tại muôn đời, và sẽ lan tràn khắp thế giới. Nhưng nhiều khi các Giáo Hội Ki-tô giáo chỉ biết tự hào như thế mà quên đi niềm mong ước của chính Thiên Chúa đối với mình. Liệu Thiên Chúa có phải than phiền về Ki-tô giáo như đã than về Do Thái giáo: “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại?” Ki-tô giáo đã hơn Do Thái giáo những gì?
Đức Giêsu đến để thiết lập một tôn giáo mới dựa trên nền tảng tình yêu thương, và luật của Ki-tô giáo là luật yêu thương: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34); “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8.10); “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô” (Gl 6,2); “Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gc 2,8).
Luật của Tân Ước mới hẳn so với Cựu Ước của Do Thái giáo, nhưng các Ki-tô hữu đã coi trọng luật ấy đủ chưa? đã tập trung mọi cố gắng để thực hành luật ấy đúng mức chưa? Hay Ki-tô giáo lại đi vào vết xe đã đổ của Do Thái giáo, là thượng tôn nghi thức, quá chú trọng tới những lễ nghi và hình thức bên ngoài? Còn lề luật chính yếu là sống yêu thương thì lại lãng quên? Có phải hiện nay hình thức của Ki-tô giáo thì mới mẻ và khác hơn Do Thái giáo, nhưng tinh thần nệ luật, nệ hình thức thì chẳng khác gì những người Do Thái ngày xưa? Đã tới lúc chúng ta cần nghiêm túc tự hỏi: ngày nay, người ngoài nhìn vào cách sống của người Ki-tô hữu, có thể nhận ra đạo của chúng ta là “đạo yêu thương” như thời Ki-tô giáo sơ khai không? Ngày nay, lễ “bẻ bánh” có còn là một dấu chỉ của một sự chia sẻ có thực trong đời sống giữa những người đến tham dự không, hay nó đã trở thành một nghi thức thuần túy, cho dù đầy ý nghĩa nhưng không có gì là thực tế cho lắm?
Mỗi Ki-tô hữu – nhất là những người có trách nhiệm hướng dẫn, lãnh đạo tôn giáo – cần tự vấn: Thiên Chúa hay Đức Giêsu có hài lòng với tình trạng Ki-tô giáo hiện nay không? Còn những người lãnh đạo tôn giáo cần tự vấn thêm: Tôi có giống như những vị lãnh đạo Do Thái giáo xưa, chẳng những không thèm nghe mà còn sẵn sàng bạc đãi hoặc bách hại những tiếng nói ngôn sứ vào thời đại của mình không? Hay ít ra khi họ bị bách hại vì đã chu toàn chức năng ngôn sứ của họ, tôi đã im lặng, làm ngơ, để mặc họ bị bách hại như thể tôi cũng đồng ý với sự bách hại ấy?
Không khéo Ki-tô giáo của chúng ta chẳng hơn gì Do Thái giáo, khiến Thiên Chúa cũng sẽ phải đối xử với chúng ta như đã đối xử với dân Do Thái: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”!
Cầu nguyện
Lạy Cha, Ki-tô giáo hiện nay thế nào, chính con – cũng như bất kỳ Ki-tô hữu nào – đều có phần nào trách nhiệm. Xin cho con biết sống đạo Chúa Ki-tô đúng với với tinh thần yêu thương của Ngài. Xin cho con rút ra được bài học lịch sử của dân Do Thái để tránh được vết xe đã đổ.
Chủ đề:
“Dụ ngôn chủ vừơn nho là một bản tóm lược lịch sử Chúa cứu độ chúng ta”.
Chiếc cầu treo Melrose bắc trên sông Niagara ở Nữu Ước nối liền Gia Nã Đại và Hiệp Chủng Quốc. Người ta nói rằng chiếc cầu này đã được thiết kế như sau:
Trước tiên người ta thả một cái diều cho nó bay ngang qua sông. Cái diều đó được cột vào một sợi dây, tiếp theo, sợi dây này được cột lại vào một sợi thừng và đến lượt sợi thừng này lại được cột vào một sợi cáp bằng thép. Như thế, dây cáp bằng thép này được dùng để giúp cho phần còn lại của chiếc cầu đứng vững.
Câu chuyện cầu Melrose thừơng được dùng để minh hoạ cho thấy các sự việc lớn lao thường được khởi đầu bằng những việc rất khiêm tốn.
Thuật kể chuyện rất phổ biến ngay từ khi con người biết liên kết từ với nhau để tạo thành câu. Thời xưa rất ít người biết đọc hoặc viết. Khi muốn dạy một điều gì quan trọng, người ta thường dựng lên một câu chuyện về điều muốn dạy, nhờ thế không những dễ học mà còn dễ nhớ nữa.
Có lẽ Chúa Giêsu đã kể chuyện nhiều hơn phần lớn các Tôn Sư khác. Câu chuyện Ngài kể được gọi là dụ ngôn. Có người đã khéo léo mô tả dụ ngôn như là một câu chuyện bàn về thế trần hàm chứa một ý nghĩa thiên quốc. Nhằm mục đích thực tiễn hoàn toàn, các dụ ngôn của Chúa Giêsu thừơng là một trong hai dạng sau: dụ ngôn “Cửa sổ” và dụ ngôn “kiếng soi mặt”.
Dụ ngôn “cửa sổ” là một chuyện đơn sơ nói về Chúa hay về Nứơc Chúa. đây là một “cửa sổ bằng lời nói” qua đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Thiên Chúa hoặc Nước Chúa. Dụ ngôn dạng này thường bắt đầu với những từ sau: “Nước Trời giống như…”
Một ví dụ về dụ ngôn dạng “Cửa sổ” là câu chuyện con chiên lạc của Chúa Giêsu. Câu chuyện này so sánh mối quan tâm của người mục tử đối với một con chiên lạc và sự quan tâm của Cha Ngài đối với kẻ tội lỗi. Người mục tử ra đi tìm kiếm con chiên lạc đường. Khi tìm thấy nó, ông đã không cột chiên con vào một cái dây rồi trừng phạt nó mà lại âu yếm đặt nó trên vai mang về nhà. Chủ ý Chúa Giêsu là tỏ cho thấy Cha Ngài trên trời cư xử với kẻ tội lỗi cũng y hệt như thế. Như thế các dụ ngôn dạng “cửa sổ” là những câu chuyện giúp chúng ta hiểu rõ Thiên Chúa và Nước Ngài.
Còn ngược lại các dụ ngôn dạng “kiếng soi” là những câu chuyện có tác dụng như “chiếc gương soi bằng lời” Nghĩa là, chúng giúp chúng ta hiểu rõ chính mình. Chúa Giêsu đã xây dựng các dụ ngôn này khéo léo đến nỗi các nhân vật trong dụ ngôn đại diện cho cả đám cử toạ đang nghe Ngài. Nói cách khác, đám người đang nghe Chúa Giêsu có thể nhận ra chính mình là một trong những nhân vật được nêu ra trong dụ ngôn.
Dụ ngôn chủ vườn nho hôm nay là một ví dụ rất hay thuộc dạng này, Chúa Giêsu ám chỉ trực tiếp và đặc biệt đến các trưởng tế và biệt phái. Hãy nhìn vào các nhân vật đóng vai trong dụ ngôn sẽ thấy ngay Chúa Giêsu có ý định để cho các nhân vật này đại diện đám người nào trong cuộc sống thực tế ngoài đời.
Dĩ nhiên, Chủ vườn nho không ai khác hơn là ngoài Thiên Chúa. vườn nho, theo như bài đọc thứ nhất hôm nay cho thấy, là dân tộc Israel. Tá điền vườn nho là các vị lãnh đạo Israel. Nhóm đầy tớ đầu tiên được chủ vườn sai đến là các tiên tri thuở xưa được Chúa phái đến với Israel. Nhóm nô lệ thứ hai là các tiên tri kế tiếp cũng do Chúa phái đến với Israel. Con trai chủ vườn, tức kẻ bị giết, là Chúa Giêsu. Đám nông gia tá vườn mới mà chủ vườn giao vườn nho lại là các Tông Đồ của Chúa Giêsu. Họ là các nhà lãnh đạo mới của dân Chúa.
Phần cuối dụ ngôn, không được trưng ra trong bài đọc hôm nay kể lại rằng: “Các tư tế và biệt phái đều hiểu rằng Chúa Giêsu đang nói về họ”. Nói cách khác, họ nhìn vào dụ ngôn “kiếng soi” này và trông thấy chính mình. nhưng thay vì hoán cải, họ vẫn cứ tiếp tục bước đi trong đường nẻo sai lạc của mình.
Điều này dẫn chúng ta đến một vấn nạn quan trọng, phải chăng Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này chỉ nhằm tác động đến các trưởng tế và biệt phái mà thôi không? Hoàn toàn không phải thế. Ngài còn nhắm cả đến chúng ta nữa. Như thế dụ ngôn này nói lên với chúng ta điều gì? Tôi xin đưa ra bốn điểm sau:
– Trước hết, dụ ngôn tóm lược toàn bộ Thánh Kinh nói về ơn cứu độ, nêu rõ những qui chiếu rõ rệt về Giao ước và Giao ước mới. Lần giao ước vườn đầu tiên ám chỉ đến Cựu ước. Lần giao vườn thứ hai ám chỉ đến Tân ước.
– Thứ đến, dụ ngôn này xác nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. nhân vật cuối cùng được sai đến với các tá điền không phải là một đầy tớ nào khác mà chính là con trai của chủ vườn.
– Thứ ba, dụ ngôn xác nhận các Tông Đồ của Chúa Giêsu là những nhà lãnh đạo mới của dân Chúa.
– Cuối cùng, dụ ngôn nói với chúng ta về lòng nhẫn nại mà Chúa dành cho chúng ta cũng như trách nhiệm của chúng ta đối với Chúa.
Chủ vườn nho đã cố gắng tới ba lần để giúp các tá vườn thay đổi đường lối. Khi ông ta thấy rằng có kiên nhẫn hơn nữa cũng vô ích, ông ta mới ra tay xét xử đám này và bắt họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ.
Thiên Chúa cũng cư xử với chúng ta y như thế. Cha trên trời của chúng ta vô cùng kiên nhẫn. Nhưng rồi sẽ đến lúc sự kiên nhẫn của Chúa sẽ nhường bước cho sự xét xử. Và chúng ta cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Như thế, dụ ngôn hôm nay không chỉ nói với các trưởng tế và biệt phái thời Chúa Giêsu mà còn nói với chúng ta nữa. Dụ ngôn tóm lược câu chuyện Thánh Kinh về ơn cứu độ, cho chúng ta biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, các Tông đồ Chúa là những vị lãnh đạo mới của dân Chúa, và cuối cùng dụ ngôn ấy còn dạy chúng ta về lòng kiên nhẫn lớn lao của Chúa dành cho chúng ta, đồng thời trách nhiệm riêng chúng ta phải chịu trước mặt Ngài.
Chúng ta hãy kết thúc bằng một tư tưởng có tính cách cầu nguyện mà Richard Wilson viết ra cách đây nhiều năm. Tư tưởng này được viết thành những vần thơ trữ tình như sau:
Đức Giêsu là người ưa kể chuyện
Ngài hình dung trong tâm trí những bức tranh
Ngài chỉ cho thiên hạ cũng như chỉ cho bạn và tôi
Cách thức sự việc xảy ra như thế nào.
Ngài đã dùng bầu trời
Ngài đã dùng biển cả
Ngài đã dùng chim muông
Ngài đã dùng cây cối
Ngài đã dùng bất cứ những gì Ngài có thể trông thấy,
Ngài là Người kể chuyện à?
Phải, Chúa Giêsu là người ưa kể chuyện
Ngài hình dung trong tâm trí những bức tranh
Đó là phương cách Ngài dùng
Chỉ cho thiên hạ, cho bạn cho tôi
Biết sự việc sẽ xảy ra thế nào.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
DỤ NGÔN TÁ ĐIỀN VƯỜN NHO SÁT NHÂN
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Xung quanh ông rào giậu, bên trong ông khoét bồn đạp nho”: Ở đây cũng như trong Isaia, việc liệt kê các sự chăm sóc về kỹ thuật mà gia chủ làm cho vườn nho của ông, cố ý nhấn mạnh đến tình yêu cũng như quyền tuyệt đối của ông trên vật sở hữu; nó thuộc về ông vì ông đã gầy dựng nên nó hoàn toàn. Tháp canh dùng để canh phòng kiểm soát cho dễ, nhất là vào mùa hái nho; bồn đạp nho người ta phải khoét vì đấy là một cái hố trong đó trái nho được đạp và nước nho từ đó thoát ra bằng một đường rãnh thích hợp. Tất cả mọi chi tiết này là những nét có tính cách dụ ngôn: chúng có mục đích làm cho bài học của dụ ngôn thêm sống động ở đây, chúng làm nổi bật sự tương phản giữa tấm lòng của gia chủ đối với vườn nho và lòng độc ác của các tá điền không chịu giao nộp hoa quả của một công lao khó nhọc và chăm sóc ân cần như thế. Thành thử không nên biến các chi tiết này thành những nét có tính cách ẩn dụ, như lối chú giải của các giáo phu đã làm, và tìm cách gán cho mỗi chi tiết một ý nghĩa biểu trưng.
“Khi đã gần mùa trái”: Mùa hái nho này chắc hẳn ám chỉ tới thời chung cục lúc Thiên Chúa tính sổ với dân Ngài. Bản văn Mt nói theo mặt chữ: “Khi thời gian đã gần đến” (êggisen); động từ “gần đến” đây đã được Gioan Tẩy giả và sau đó Chúa Giêsu dùng để loan báo Nước trời sắp xuất hiện: “Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên” (êggisen: 3, 2 và 4, 17). Thành ra hình như chỗ này Matthêu muốn hiểu ngầm là lúc tính sổ trùng phùng, trong lịch sử cứu rỗi, với sự xuất hiện của Gioan Tẩy giả và của Chúa Giêsu. chính để đáp lại lời rao giảng của hai vị sứ giả ấy của Thiên Chúa mà Israel bây giờ phải “sinh hoa quả phúc đức, xứng vui lòng hối cải” (3, 8).
“Các tá điền túm lấy các tôi tớ của ông, đánh đập người này, giết chết người kia, ném đá người nọ”: Sự tiến triển từ đánh đập, giết chết đến ném đá (việc bạo hành số một thời Chúa Giêsu) không chỉ là một cách diễn tả cho linh động dễ nhớ, song còn ám chỉ đến sự đối nghịch ngày càng trầm trọng hơn giữa gia chủ và các tá điền; việc ném đá các ngôn sứ hình như đã là một chủ đề truyền thống trong Do thái giáo và Kitô giáo sơ khai (Dt 11, 37; nhưng nhất là 11, 37; Lc 13, 34).
“Ông lại sai thêm tôi tớ đông hơn trước”: Việc sai phái lần thứ nhì này hình như ám chỉ đến việc người Do thái xếp các ngôn sứ thành hai hạng đầu và cuối (hay trước và sau).
“Sau cùng”: Trạng từ này đánh dấu đây là cơ may cuối cùng để cho các tá điền thống hối ăn năn.
“Kẻ thừa tự đó, ta mau giết quách nó đi”: Theo 3 bản Nhất Lãm, các tá điền lập tức nhận ra kẻ thừa tự không chút ngập ngừng (Dt 1, 2; 11, 7; Rm 8, 17); tội ác của họ không phải là hậu quả của một sự lầm lẫn bi đát hay của lòng thiếu tin vào Đấng được sai; họ hành động với đầy đủ ý thức về sự trầm trọng của việc làm. Dụ ngôn chẳng mô tả điều xảy ra trong trí óc của các đối thủ Chúa Giêsu, những kẻ không thừa nhận Người như kẻ thừa tự; đúng hơn nó mặc khải sự nặng nề của việc họ từ chối Thiên Chúa trong bản thân của Đấng Ngài sai đến.
“Chúng túm lấy người con, lôi ra bên ngoài vườn nho và giết đi “: Cái chết ngoàì vườn nho” này chắc chắn ám chỉ đến việc Chúa Giêsu chết ngoài thành Giêrusalem. Đây là một nét ẩn dụ khác.
“Viên đá thợ xây đã thải”: Câu trích dẫn này xê dịch trọng tâm của dụ ngôn từ vườn nho hay các tá điền sang bản thân người con mà, cho đến phần cuối của câu trước, không có gì loan báo là sẽ tái xuất hiện một cách oai hùng cả. Câu ấy có thể hiểu như là một lời chú giải Giáo Hội sơ khai thêm vào dụ ngôn; tuy nhiên trong một dụ ngôn như thế này, toàn thể bản văn vừa truyền lại vừa chú giải các lời nói của Chúa Giêsu. Việc thợ xây thải viên đá được diễn tả bằng một từ chuyên môn (apodekimazein, x.Mc 8, 31; 17, 25; Dt 12, 17) chỉ việc thủ tiêu một đồng bạc bị một nhân vật có thẩm quyền xét là giả mạo. Viên đá góc có lẽ chẳng phải là viên đá góc tường của móng dưới, nhưng là viên đá đỉnh góc (clé de voute), viên đá hoàn tất và mặc cho công trình xây dựng ý nghĩa của nó. Viên đá bị thải, nghĩa là Người Con, không tự nâng mình lên vì động từ egenêthê (nghĩa sát chữ: đã được làm thành) ở thể thụ động (thụ động thần linh), nên đây là một hành động oai hùng và kỳ diệu của Thiên Chúa.
“Một dân”: dịch sát chữ: “một dân nước”. Hạn từ “dân nước” này (ethnos), ở số ít: không thể chỉ “chư dân” theo nghĩa “lương dân” (luôn luôn ở số nhiều), nhưng chỉ một đoàn thể đang được cấu tạo và hình thành: người ta nghĩ đến dân thánh” (ethnos agion) của Xh 19, 6. Dân nước này sẽ được làm thành bởi mọi kẻ sẽ sinh hoa trái của Nước Trời, nghĩa là những kẻ, khi tiếp nhận Người Con, sẽ tụ họp quanh Người để làm nên Dân mới của thiên Chúa (Rm 9,25; 1 Pr 2, 10).
Các nhà phê bình chia rẽ nhau về xác thực tính của câu 44. Đa số các đại thủ bản (Sinaiticus, Vaticanus, Ephlemi Rescriplus, K,L,W,X…) đều có ghi nó, nên đối với nhiều tác giả điều ấy đủ để đảm bảo rằng nó xác thực.. Tuy nhiên, nhiều bản dịch cổ xưa (thủ sao của bản Latinh cổ, bản Syri cổ ở Sinai, bản Diatesseron của Tatien) và một số giáo phụ (Irênê, Origène, Eusèbe) đã loại nó ra. Hơn nữa, vì câu này đã nằm trong Lc 20, 18 nên có thể là các sao lục viên đã chèn nó ở đây vì ưu tư hòa hợp hái bản văn. Cuối cùng, đáng ra nó phải được ghi ngay sau câu trích dẫn 21, 42 chứ chẳng phải sau 21, 43 là câu tự nhiên không đòi hỏi một trích dẫn Thánh Kinh nào. Các lý do khác nhau vừa nói làm ta nghĩ câu 44 này không xác thực, trặc dù tính cách rất cổ của nó đã làm cho nó thành một chứng nhân quý giá của tư tưởng thần học của các thế kỷ đầu Kitô giáo.
KẾT LUẬN
Chủ đề vườn nho là một trong những chủ đề phong phú nhất của cả Cựu ước. Nó thường được liên kết với chủ đề tình yêu đến độ biểu tượng về vườn nho thường hay hòa lẫn, hoán đổi với hình ảnh người đàn bà. Đàng khác, nó lại được khai thác trong một bối cảnh cánh chung, dưới hình thức mùa hái nho hay bồn đạp nho, cùng gợi lên trước trường hợp đó sự ghen tương và trả thù cuồng nhiệt của Thiên Chúa Giao ước, Đấng đổ rượu giận dữ của Ngài trên thù địch của dân Ngài yêu (Is 63). Diễn từ sau bữa Tiệc Ly (Ga 15, 1- 6), cũng như việc Phụng vụ dùng Is 63 trong bối cảnh Tuần thánh, gợi lên một tổng hợp sống động về hai cách sử dụng chủ đề đó: Chúa Giêsu vừa là người hái nho đơn độc làm cho mối tình tuyệt vọng được hả giận hay bớt đắng cay, bằng cách dùng máu mình làm nước nho chua ra dịu ngọt, vừa là vườn nho song động, hiền thê của Đấng Dấu ái duy nhất, chạp nhận vô điều kiện việc gọt tỉa cần thiết cho mình, và sau hết đời đời là gốc nho – là đầu – của một thân thể không ngừng phát triển tứ chi bằng việc chia sẻ giòng máu sống động của Ngài, để dẫn đến cho Thiên Chúa một dân thánh, được hiệp nhất bằng nhiệm cục khải hoàn vinh thắng của tình yêu.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1.”Người bạn yêu của tôi có một vườn nho…” Isaia mở đầu bài ca tuyệt diệu về tình yêu của Chúa đối với dân Ngài như thế. Chính với một tình âu yếm sâu xa mà Thiên Chúa đã tạo dựng con người đã chọn giữa nhân loại một nhóm người thụ thác các lời Ngài hứa và chịu trách nhiệm làm cho Ngài hiện diện với tất cả. Chính với sự ân cần mà Ngài đã nuôi nấng, cưng chiều, sai phái những kẻ được chọn đó ra đi làm sứ giả mang niềm vui và lòng yêu thương âu yếm của Ngài. Khổ nỗi, thay vì sinh trái ngon ngọt của lòng trung tín và sự bình an, họ đã tạo nên hận thù, ghen tương, bạo lực. Hy vọng hái được nho ngon, Thiên Chúa chỉ nhặt được những trái chua lòm.
Việc Chúa Giêsu biến đổi bài thơ của Isaia thật quan trọng; rõ ràng là Người nhấn mạnh đến các lần liên tiếp sai phái đầy tôi, sự ân cần sốt sắng và đồng thời đức kiên trì không tưởng tượng nổi của chủ. Dù các sứ giả mình đã bao lần từ chối, gặp thất bại và chịu ngược đãi, Chúa vẫn không ngừng gởi thêm sứ giả mà dân cần đến. Lời ám chỉ thật rõ ràng. Suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa đã cho chỗi dậy rất nhiều ngôn sứ, nhưng dân vẫn không đời nào nghe sứ điệp họ, lại còn khai trừ, ngược đãi và giết họ nữa. Cuối cùng, Ngài sai Con mình. Và Người Con đó đã bị đóng đinh ở ngoài cửa thành Giêrusalem.
(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)
Ý CHÍNH: Dụ ngôn những tá điền sát nhân
Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn “Những tá điền sát nhân” này để cảnh cáo các đầu mục Do Thái. Câu chuyện kể về bọn tá điền gian ác, đã được chủ vườn ưu ái trao quyền canh tác vườn nho, nhưng lại rắp tâm chiếm đọat bằng việc không chịu nộp phần hoa lợi như đã thỏa thuận. Ho đã bách hại các đầy tớ do chủ sai đến và còn giết chết chính con trai ông chủ. Số phận của bọn tá điền gian ác là sẽ bị ông chủ trừng phạt đích đáng và vườn nho được trao cho tá điền khác biết chu tòan các thỏa thuận đã ký kết.
CHÚ THÍCH:
– C 33: + Các ông: Ở đây ám chỉ các thượng tế và kỳ mục Do Thái ở Giê-ru-sa-lem. + Gia chủ và vườn nho: Trong sách ngôn sứ I-sai-a, vườn nho ám chỉ dân Ít-ra-en và chủ vườn nho là Thiên Chúa (x. Is 5,1-4). Còn trong dụ ngôn này, vườn nho lại ám chỉ Nước Thiên Chúa do Đức Giêsu thiết lập. + Rào giậu chung quanh, khoét bồn đạp nho và xây một tháp canh: Khi liệt kê các việc ông chủ đã làm cho vườn nho, Đức Giêsu nhấn mạnh đến sự quan tâm và quyền sở hữu tuyệt đối của chủ vườn nho qua các việc như: rào giậu là cách bảo vệ khỏi bị người khác lấn chiếm; bồn đạp nho hay hầm ép rượu là một cái hố được đục khoét sâu vào tảng đá lớn, nho được đạp dập cho chảy ra nước cốt. Nước cốt này chảy qua máng vào một thùng lớn và được ủ trở thành rượu. Tháp canh là vọng gác luôn có người canh để đề phòng kẻ trộm. + Cho tá điền canh tác: Tá điền ám chỉ các đầu mục dân Do thái đã được Thiên Chúa trao phó trách nhiệm chăn dắt dân Ít-ra-en. Nhưng họ đã đưa dân này vào con đường thất tín và bất trung với Giao ước đã ký kết với Thiên Chúa.
– C 34: + Gần đến mùa hái nho: Gần đến nhắc ta nghĩ đến lời giảng “Nước Trời đã đến gần” của Gio-an Tẩy Giả và của Đức Giêsu (x. Mt 3,2; 4,17). Mùa hái nho là thời gian Thiên Chúa sẽ đến tính sổ với dân Ngài. + Ông sai đầy tớ đến gặp tá điền để thu hoa lợi: Đầy tớ ám chỉ các ngôn sứ Cựu Ước đã được Thiên Chúa sai đến kêu gọi dân Ít-ra-en sám hối để làm con dân của Thiên Chúa.
– C 35-36: + Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: Dân Ít-ra-en đã bắt bớ giết hại các ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến kêu gọi họ giữ Giao ước. + Chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ: Các hình khổ của bọn tá điền làm đối với những gia nhân do chủ sai đến theo thứ tự từ nhẹ đến nặng: Đánh, giết, ném đá. Ném đá cũng là một cách giết chết, nhưng kèm thêm sự nhục nhã và đau đớn hơn nhiều. Điều này cho thấy sự chống đối của dân Ít-ra-en đối với các ngôn sứ ngày một gia tăng. Đó là thứ tội bất trung và xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa. + Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước. Nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy: Qua câu này ta thấy có hai loại ngôn sứ là ngôn sứ tiền và ngôn sứ hậu. Việc gửi các ngôn sứ hậu đông hơn ngôn sứ tiền, diễn tả lòng khoan dung kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en. Dù bị họ phản bội bất trung, nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi, mà vẫn tiếp tục sai các ngôn sứ khác đến cảnh cáo, ngăm đe, để giúp họ hồi tâm sám hối. Nhưng họ vẫn cố chấp giết hại các vị ấy.
– C 37-39: + Sau cùng: Đây là cơ may cuối cùng để bọn tá điền hồi tâm sám hối. + Ông sai chính con trai mình đến: Con trai ông chủ ám chỉ Đức Giêsu, vì nhiều lần Người đã xưng mình là Con Thiên Chúa (x. Mt 14,32; 16,16). + Đứa con thừa tự đây rồi: Khi thấy con ông chủ đến, bọn tá điền lập tức nhận ra kẻ thừa tự. Họ đã hành động với đầy đủ ý thức và tự do nên tội của họ rất nặng. Còn về các đầu mục dân Ít-ra-en tuy không tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Mt 27,43) vì lầm chẳng biết (x Lc 23,34), nên tội của họ có thể được nhẹ đi phần nào. + Nào ta giết quách nó đi và đoạt lấy gia tài nó: Lỗi nặng nhất của các tá điền là không bhững không tiếp nhận mà còn giết hại các đầy tớ và chính người con thừa tự do chủ vườn sai đến với họ. Tội đó phát xuất từ ý muốn chiếm đoạt vườn nho. Đây cũng là lời cảnh báo chúng ta: Mỗi lần ta biến các việc thuộc về Chúa trở thành việc riêng của mình để trục lợi, là ta đã chiếm đoạt vườn nho của Chúa làm của riêng ta, như bọn tá điền làm trong Tin Mừng hôm nay. + Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi: cái chết của người con trai ông chủ do bọn tá điền làm, ám chỉ cái chết của Đức Giêsu ngoài thành Giê-ru-sa-lem lúc cuối đời Người.
– C 40-41: + Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?: Đặt câu hỏi này, Đức Giêsu muốn cho các đầu mục dân Do Thái nhận định điều gì phải quấy. + Họ đáp: “Ác giả ác báo!: Họ cũng trả lời đúng với ý của ông chủ là phải trừng phạt bọn tá điền gian ác kia. + Cho các tá điền khác canh tác vườn nho: Tá điền khác ám chỉ dân Ít-ra-en Mới là Hội Thánh. Hội Thánh sẽ thay thế dân riêng Ít-ra-en để thừa hưởng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa.
– C 42-43: + Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao?: Đây là câu trích trong sách Thánh vịnh (x. Tv 118,22-23), gần giống với lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a (x Is 28,16). Sau này thánh Phê-rô đã ám chỉ câu này về mầu nhiệm Đức Giêsu Phục sinh, Đấng sẽ thiết lập dân mới của Thiên Chúa (x. Cv 4,11; 1 Pr 2,4-8). + Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ…: Tảng đá bị thợ xây loại bỏ ám chỉ Đức Giêsu bị bọn đầu mục Do thái sát hại, đã được Thiên Chúa nâng lên địa vị làm “Chúa” muôn loài sau cuộc tử nạn và phục sinh của Người (x. Pl 2,8-11). + Mà ban cho một dân tộc: không nhất thiết là dân ngoại, nhưng một dân mới là Hội Thánh, gồm các dân tộc tin thờ Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu (x. Rm 9,25; 1 Pr 2,10). Chính dân mới này sẽ thay chỗ của dân Ít-ra-en bất trung. + Biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi: Hoa lợi là phần rỗi đời đời. Tóm lại: Giao ước mới (Tân ước) sắp được ký kết giữa Thiên Chúa với loài người trong Máu Con Chiên Thiên Chúa là Đức Giêsu, sẽ thay thế Giao ước cũ (Cựu ước) được ký kết giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en trong máu chiên bò thời Mô-sê.
CÂU HỎI:
1) Ý nghĩa của vườn nho trong sách ngôn sứ I-sai-a và trong Tin mừng Mat-thêu khác nhau thế nào? 2) Trong dụ ngôn, ông chủ vườn nho đã biểu lộ lòng yêu mến dành cho vườn nho của mình qua những hành động nào? 3) Bọn tá điền trong dụ ngôn ám chỉ những ai và họ đã thi hành nhiệm vụ thế nào? 4) Đầy tớ được chủ sai đến thu hoa lợi vườn nho ám chỉ những ai? 5) Bọn tá điền đã đối xử thế nào đối với các đầy tớ do chủ vườn sai đến? 6) Sự khoan dung nhẫn nhịn của chủ vườn nho thể hiện qua hành động nào? 7) Sau cùng chủ vườn nho đã sai ai đến và nhằm mục đích gì? 8) Bọn tá điền hè nhau giết hại con trai ông chủ nhằm mục đích gì? Cái chết của con trai ông chủ vườn trong dụ ngôn ám điều gì sẽ xảy ra cho Đức Giêsu sau này? 9) Câu “Ác giả ác báo” ám chỉ về ai trong dụ ngôn? 10) Tảng đá bị bọn thợ xây lọai bỏ ám chỉ ai và điều gì sẽ xảy ra cho Người? Dân tộc khác ở đây là dân nào? Làm cho sinh hoa lợi nghĩa là gì?
Sách Các Vua (x. 1 V 21,1-16) thuật lại câu chuyện về lòng tham của một ông vua như sau:
Trong thời kỳ các vua, ở Sa-ma-ri có một người tên là Na-vót. Ông là chủ đang canh tác một vườn nho. Bấy giờ vua của Sa-ma-ri là A-kháp đã sai người đến yêu cầu Na-vốt nhượng lại vườn nho ấy để làm vườn rau, vì nó nằm cạnh cung điện của nhà vua. Bù lại, vua sẽ cho ông ta một vườn nho khác tốt hơn. Hoặc nếu muốn, nhà vua sẽ trả bằng bạc theo giá thỏa thuận. Nhưng Na-vốt đã từ chối không bán vườn nho cho vua, với lý do đó là đất hương hỏa của tổ tiên để lại. Vua A-Kháp rất tức giận và buồn rầu. Nhà vua vào nằm quay mặt vào trong giường không chịu ăn uống gì cả. Bấy giờ hoàng hậu I-de-ven nghe biết đã đến an ủi vua. Bà hỏi lý do tại sao nhà vua lại buồn rầu và bỏ ăn như thế. Vua liền kể lại sự thể do Na-vốt đã không bán vườn nho cho mình. Nghe xong, hoàng hậu I-de-ven đã hứa sẽ tặng không cho vua vườn nho ấy. Rồi bà nhân danh vua A-kháp viết một bức thư, dùng con dấu của vua đóng ấn trên đó, rồi sai người mang đến nhà các kỳ mục và thân hào trong thành. Trong lá thư, bà đã đề ra một kế hoạch chi tiết để họ làm theo. Đó là xúi người đứng ra cáo gian Na-vốt đã dám nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua, rồi hội đồng sẽ xét xử và kết án Na-vốt bị ném đá chết. Dân chúng, kỳ mục và thân hào trong thành đã làm đúng theo kế hoạch hoàng hậu đã vạch ra cho họ. Sau khi Na-vốt chết, hoàng hậu liền đến gặp và giục vua chiếm lấy vườn nho của Na-vốt.
1) Về sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu:
Đức Giêsu có sứ mạng thiết lập Triều đại của Thiên Chúa hay cũng gọi là Nước Thiên Chúa. Đây là một Vương quốc bình an, hạnh phúc và đầy tràn tình thương. Nước Thiên Chúa bắt đầu trong lòng mỗi người như Đức Giêsu đã nói: “Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,21), rồi từ đó lan rộng ra xã hội để làm thành một Vương quốc mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho loài người. Để hình thành Nước Thiên Chúa này, Đức Giêsu đã kiện toàn Luật Mô-sê khi nhấn mạnh đến khía cạnh tinh thần của việc thờ phượng thay vì chú trọng thờ Chúa ở hình thức bề ngoài, như Người đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem… Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,21.23).
Tuy nhiên các lời rao giảng về Nước Thiên Chúa của Đức Giêsu chỉ được lớp người bình dân đón nhận, đặc biệt là những người thu thuế và những cô gái điếm tội lỗi đi theo Người rất đông… Còn các người lãnh đạo là các Thượng tế, Kinh sư, Biệt phái… lại quyết liệt chống đối vì cho rằng Đức Giêsu đã phá bỏ truyền thống của cha ông. Do đó nhiều lần họ đã dò xét và tranh luận với Đức Giêsu về nhiều vấn đề như: Việc rửa tay trước khi ăn, việc ăn chay, việc chữa bệnh trong ngày hưu lễ Sa-bát, quyền xua đuổi con buôn ra khòi Đền Thờ… Đặc biết họ phẫn nộ khi nghe Đức Giêsu xưng mình là Con Thiên Chúa, gọi Thiên Chúa là Cha và coi mình ngang hàng với Thiên Chúa… Nên cuối cùng họ đã họp nhau quyết định: “Hắn đáng chết!” (Mt 26,59-66). Khi kể dụ ngôn những người tá điền sát nhân này, Đức Giêsu đã cho biết Người sẽ bị các đầu mục dân Do thái giết chết và về số phận của bọn người gian ác này (Mt 21,33-39).
2) Về ý nghĩa của dụ ngôn bọn tá điền sát nhân:
Câu chuyện trong dụ ngôn là một bản tóm lược về ơn cứu độ của Thiên Chúa, trong đó mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa liên quan tới lịch sử cứu độ: Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa, vườn nho là dân Ít-ra-en được Thiên Chúa chọn làm dân riêng của Ngài: Chúa đã thiết lập Giao ước Xi-nai với dân này qua trung gian ông Mô-sê, gọi là Cựu ước. Người đã bảo vệ và hướng dẫn họ như ông chủ vườn nho rào giậu, làm bồn đạp nho và vọng gác. Bọn tá điền sát nhân ám chỉ các nhà lãnh đạo đã đưa dân vào con đường bội nghĩa bất trung. Các đầy tớ của chủ vườn ám chỉ các ngôn sứ đã bị các đầu mục Do thái đối xử tàn tệ. Người con trai của chủ vườn là chính Đức Giêsu cũng sẽ bị họ đóng đinh trên núi Sọ ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Các đầu mục Do Thái tưởng rằng khi giết được Đức Giêsu, họ sẽ nắm được trọn quyền lãnh đạo dân tộc. Nhưng trái lại, họ sẽ bị mất quyền ấy và tòan dân cũng bị vạ lây là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá vào năm 70 sau này. Còn Nước Thiên Chúa sẽ được giao cho một dân khác biết làm phát sinh hoa lợi, đó là Hội Thánh. Hội Thánh được ký giao ước mới với Thiên Chúa nhờ máu Đức Giêsu chịu chết trên thập tự: Người là “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại sẽ trở nên đá tảng góc tường”. Người là Con Thiên Chúa bị dân Do Thái là bọn thợ xây giết hại. Nhưng đến ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại và được “Thiên Chúa siêu tôn và tặng ban Danh hiệu trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu. Để khi vừa nghe Danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng “Đức Giêsu Ki-tô là Chúa” (PI 2,10-11).
3) Chúng tôi phải làm gì?
– “HỒNG ÂN THIÊN CHÚA BAO LA”: Thiên Chúa là chủ vườn nho, đã ban cho loài người biết bao hồng ân như thánh Phaolô đã viết: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7). Chúa trao cho ta một nén vàng và ta có bổn phận phải làm lợi ra gấp năm gấp mười nén khác. Ngài giao cho chúng ta trọn quyền làm chủ vườn nho tượng trưng cho sinh mạng, sức khoẻ, tài năng, phương tiện sinh sống, thời giờ và cả con cái hay những người chúng ta có bổn phận chăm sóc… Sau này chúng ta sẽ phải trả lẽ về phần hoa lợi phải nộp cho Ngài là các việc lành. Vậy chúng ta sẽ nộp cho Chúa phần hoa lợi nào khi ra trước tòa Chúa phán xét ở đời sau?
– TRÁNH THÓI THAM LAM: Sự tham lam là thói thường của con người: “Lòng tham vô đáy” được biểu hiện qua các thái độ: “Được voi đòi tiên”, “Theo đạo lấy gạo mà ăn”, hoặc “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”, “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi, cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ”… Chúa trao trách nhiệm coi sóc vườn nho của Ngài cho ta và chỉ cần ta dâng lại một một phần nhỏ hoa trái làm ra. Thực ra Thiên Chúa không cần những thứ ta dâng, vì Ngài hoàn toàn sung mãn. Nhưng qua hành động dâng tiến đó, ta mới chứng tỏ được lòng mến Chúa và sẽ được Chúa ban thêm nhiều hồng ân, nhất là ơn cứu độ đời đời. Vậy hiện nay tôi đang theo đạo nhằm mục đích gì?
– NƯỚC THIÊN CHÚA SẼ BỊ LẤY ĐI: Câu cuối cùng trong bài Tin Mừng không chỉ là lời Chúa cảnh cáo các thượng tế và đầu mục dân Ít-ra-en, mà cũng là lời cảnh báo mỗi tín hữu chúng ta. Có khi nào Chúa sẽ lấy đi “ơn cứu độ” khỏi tay chúng ta để ban cho anh em lương dân thành tâm thiện chí đón nhận Chúa Giêsu không? Chúng ta sẽ bị Chúa lấy ơn Chúa khi chúng ta “đánh, giết, ném đá” những ngôn sứ là những vị chủ chăn trong Hội Thánh được Chúa sai đến coi sóc hướng dẫn chúng ta. Chúng ta sẽ bị lấy đi ơn cứu độ khi chúng ta cố tình phạm tội trọng, khi chúng ta không cầu xin ơn Thánh Thần đến thánh hóa chúng ta, khi chúng ta không biết làm phát triển nén vàng đức tin được trao cho chúng ta quản lý.
– “ÁC GIẢ ÁC BÁO”: là lời cảnh cáo các tín hữu tham lam, lợi dụng tôn giáo để mưu cầu ích lợi cho bản thân mình. Thiên Chúa luôn tỏ ra kiên nhẫn trước những sự bất trung của con người. Nhưng sẽ đến ngày thái độ kiên nhẫn phải nhường chỗ cho sự xét xử công minh. Đó là giờ chết của mỗi người hay là ngày tận thế chung của toàn nhân loại. Vậy ngay từ bây giờ mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì? Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê cũng là khuyên chúng ta về cách ăn nết ở như sau: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (PI 2,14-15).
1) “Tất cả đều là hồng ân”. Bạn có đồng ý với câu khẳng định đó không khi bản thân bạn liên tiếp gặp phải những tai nạn rủi ro và những sự trái ý cực lòng? 2) Thiên Chúa có quảng đại không, khi đòi chúng ta phải làm lợi thêm những nén vàng Ngài đã trao cho ta, hay khi Ngài đòi thu phần hoa lợi từ vườn nho tài năng mà Ngài đã trao cho ta trọn quyền sử dụng?
– Lạy Chúa Cha Từ Ái. Mỗi người chúng con đều là những tá điền được Cha trao sứ mệnh canh tác vườn nho của Cha. Vườn nho đó chính là những người thân yêu trong gia đình ruột thịt, là bà con chòm xóm, là xứ đạo, đất nước và Hội Thánh mà chúng con được mời gọi phục vụ.
– Xin cho các tín hữu chúng con biết chiếu sáng đức tin như những vì sao trên trời. Xin cho đức tin của chúng con luôn thể hiện qua đức cậy là lời cầu nguyện phó thác nơi Cha, và đức mến là thái độ khiêm nhường phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ những người nghèo đói bệnh tật hay bị bỏ rơi… Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho chúng con đời này và đời sau.
HÃY LÀM NẢY SINH NHIỀU HOA LỢI CHO CHỦ MÌNH
Tại sao những người tá điền lại nhẫn tâm”bắt các đầy tớ [của ông chủ]: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ [và còn dám cả gan]… bắt lấy [con trai của ông], quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi” như vậy thưa bạn (Mt. 21:35,39)?
Bạn nghĩ thử mà xem, khi kiếm người trông nom và quản lý tài sản trong một thời gian dài và nhất là khi phó thác số tài sản lớn của mình trong tay của người đó thì ông chủ nhất định phải khôn khéo lựa chọn những người có lý lịch trong sạch, có uy tín và thật đáng tín nhiệm chứ! Chắc chắn ông phải điều tra kỹ lắm! Thế thì tại sao những người tá điền này lại trở thành những tên sát nhân độc ác như vậy? Chắc có nhiều lý do lắm. Thế nhưng theo tôi, lý do chính khiến cho những người tá điền chất phác này trở thành những tên sát nhân ác tâm như vậy là bởi vì họ không có HOA LỢI để nộp cho chủ.
Tôi và bạn, chúng mình đều là những tá điền, là những người quản lý trong vườn nho của ông chủ tốt lành là Thiên Chúa. Nhiệm vụ của chúng mình là phải làm sản sinh ra nhiều HOA LỢI cho Ngài.
Tôi hỏi thật bạn nhé! Bạn đã làm ra nhiều HOA LỢI cho ông chủ của bạn hay chưa?
Sống trong ơn gọi hôn nhân, bạn được ông chủ trao cho công việc quản lý một vườn nho trong đó toàn là những giống nho tốt, đó là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, cháu chắt của bạn… Nhiệm vụ của bạn là phải làm cho những cây nho này trổ sinh hoa trái ngon ngọt và sinh thật nhiều HOA LỢI cho Ngài.
Nếu bạn đang sống trong ơn gọi tu trì thì bạn và tôi chúng mình được ông chủ trao cho công khá nặng nề đấy! Chúng mình phải đứng trên những tháp canh, làm công tác bảo vệ vườn nho, trông coi những bồn đạp nho và làm đốc thúc công nhân làm việc để nhờ vậy HOA LỢI của ông chủ càng ngày càng gia tăng.
Bạn thân mến, nếu tôi và bạn, chúng mình không biết làm sinh HOA LỢI cho ông chủ thì… căng đấy!
Bạn có tin rằng khi không có hoa lợi nộp cho chủ, chúng mình sẽ lâm vào cảnh “đói ăn vụng túng làm liều.” Lúc đó tôi và bạn không chừng sẽ trở thành những tên sát nhân còn nhẫn tâm và ác ôn hơn là những tên tá điền trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay!
Nếu chúng mình thấy chưa có HOA LỢI để nộp cho ông chủ thì hãy nhanh tay lên, phải khẩn trương lên, bạn và tôi vẫn còn thời gian để làm cho HOA LỢI của ông chủ nảy sinh thêm. Đừng để cho ông chủ nổi giận và “tru diệt bọn chúng [mình], và cho các tá điền khác canh tác vườn nho” (Mt. 25:41).
Chúng mình hãy cầu nguyện cho nhau để bạn và tôi sẽ trở thành những người quản lý thông minh và khôn khéo, biết làm cho hoa lợi của ông chủ nảy sinh gấp bội. Làm được như vậy chắc chắn ông chủ sẽ rất hài lòng!
Tôi bảo đảm, nếu chúng mình làm nảy sinh nhiều HOA LỢI cho vườn nho của Chúa thì Ngài sẽ tươi cười và nói với chúng mình trong ngày sau hết: “Khá lắm! hỡi [những] đầy tớ tài giỏi và trung thành!… Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ [các] anh!” (Mt. 25:21).
Năm 1965 trong chuyến bay từ Ý qua Mỹ, có một số Giám Mục trở về sau khi tham dự Công đồng Vaticanô II. Có 1 nữ chiêu đãi viên rất xinh đẹp nhưng cô lại rất bực mình vì có một người cứ chăm chú nhìn cô, người đó là Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen, vị giảng thuyết lừng danh của Hoa Kỳ. Khi hạ cánh, Đức Tổng nói với cô: “cô đẹp lắm, cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp.” Mấy hôm sau cô chiêu đãi viên này tìm đến văn phòng Đức Tổng và hỏi con phải cám ơn Chúa thế nào? Đức Tổng trả lời: “Chúa đã lấy hết sắc đẹp của người cùi trong trại cùi Di linh bên VN mà ban cho cô, cô hãy qua đó an ủi họ.” Sau một thời gian, cô này đã nhập Dòng làm nữ tu và tình nguyện sang Việt Nam phục vụ tại trại cùi Di Linh.
Một tấm gương sáng và rất anh hùng.
Bài đọc thứ nhất và bài Phúc Âm đều nói về vườn nho. Vườn nho đó chỉ về dân Do Thái là dân riêng Chúa và cũng chỉ về mỗi người Công giáo chúng ta, vì khi chịu phép Rửa tội chúng ta thuộc về Giáo hội, là dân riêng Chúa.
Có 3 điểm nói về Thiên Chúa.
a/ Thiên Chúa tin tưởng con người: Ngài là chủ vườn nho, nghĩa là chủ thân xác và linh hồn chúng ta, nhưng Ngài tin tưởng và giao cho chúng ta canh tác, ban cho chúng ta có tự do để làm ích lợi hay làm thất thoát vườn nho đó.
b/ Thiên Chúa kiên nhẫn với con người: Ngài ban ân huệ như rào dậu chung quanh, xây tháp canh, đào hầm ép rượu, cho người tới thăm hỏi, cho thời gian sinh lợi.
c/ Thiên Chúa phán xét con người: Sau cùng khi đến hạn là lúc chúng ta nằm xuống, Ngài phán xét tùy theo chúng ta sống: phục vụ hay ích kỷ, sinh lợi hay khô cằn, chuyên cần hay lười biếng…
Có 3 điểm nói về con người.
a/ Con người có ân huệ Chúa ban: tự do, thời giờ, khả năng, ơn thánh… Thiên Chúa đã ban đủ phương tiện để chúng ta đạt mục đích.
b/ Con người có nhiều cơ hội: Chúa đã sai nhiều người tới nhắc nhở, cho nhiều biến cố xẩy ra để cảnh báo, cho nhiều thời gian để lập công phúc…
c/ Con người phải trả lẽ trước toà Chúa: mẫu số chung của con người là cái chết. Chúa có dịp hái nho ngọt để thưởng thức hay nho dại để đốt đi. Hoa lợi sinh cho Chúa là những việc lành hay gai góc là những việc xấu.
Ai cũng có 1 kiếp sống và chỉ một kiếp sống mà thôi. Chúng ta không có 2 kiếp để đánh đổi hay thử nghiệm. Những việc chúng ta làm ở đời nàysẽ định đoạt cho chúng ta ở đời sau. Thiên Chúa muốn cuộc sống của chúng ta phải sinh lợi cho Chúa và tha nhân. Ngài ban đủ phương tiện, Ngài cho đủ thời gian, Ngài không đòi hỏi điều vô lý hay quá sức chúng ta. Những chùm nho chín ngọt mà Thiên Chúa mong muốn là những nhân đức, những việc lành, những hy sinh, những phút giây cầu nguyện, những hành vi bác ái…
Cầu chúc cho nhau, với Ơn Chúa giúp và sự cố gắng của mỗi người, cuộc đời mình là Vườn Nho xanh tươi và chùm nho chín ngọt.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn