Ngày 2 tháng 10
CÁC THIÊN THẦN BẢN MẠNH
Kính thưa anh chị em
Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính các thiên thần bản mệnh của mỗi người chúng ta.
Sự hiện diện của các ngài trong Kinh Thánh là điều đã thật rõ ràng không có thể chối cãi. Ngay từ trang đầu của sách Sáng Thế Ký chúng ta đã thấy các ngài xuất hiện như là những vị thừa hành mệnh lệnh của Thiên Chúa.
Trong suốt thời Cựu Ước sự hiện diện của các ngài cũng không thiếu. Bài sách thánh thứ I chúng ta vừa nghe là một trong những đoạn văn rõ rệt nhất nói về những điều đó. Thiên Chúa đặc biệt loan báo con người sự có mặt của một đạo binh mà Người gửi xuống để giữ gìn loài người chúng ta. “Này Ta sẽ sai thiên thần Ta đi trước mặt ngươi và gìn giữ ngươi khi đi đàng, dẫn đưa ngươi đến nơi Ta dọn sẵn cho ngươi” (XH 23,20).
Sự bảo vệ mà con người nhận được từ các Thiên thần thật đặc biệt. Hồi ấy Đaniel là mới chỉ là một cậu bé, nhưng là một cậu bé hết lòng kính sợ Thiên Chúa. Đaniel được Vua Đarius vua xứ Ba tư rất thương yêu. Đaniel là một người Do thái mà lại được nhà Vua Ba Tư thương yêu như thế thì quả thực việc đó chẳng có lợi gì. Các quan cận thần trong triều đình nhà vua tìm đủ mọi cách để hại Đaniel. Một hôm họ lập mưu để cho nhà vua phải mắc mưu họ.
“Hoàng đế Đarius vạn tuế!”
Chúng tôi tất cả các thừa tướng trong nước, các viên đổng lý, bảo quốc, tư vấn và tổng trấn đã cùng nhau bàn là phải ra một ngự sắc và ban hành lệnh cấm là trong vòng 30 ngày hễ ai khấn nguyện cầu kinh với bất cứ thần hay người nào trừ phi là Ngài thì sẽ bị quăng vào hầm sư tử.
Vậy nay tâu hoàng thượng, xin Ngài ban lệnh cấm và châu phê văn kiện để được bất di bất dịch chiếu theo luật của dân Mê-di và Ba-Tư, một luật vô phương bãi bỏ”
Vua ký ngự sắc và ngự sắc đó thành luật.
Thế nhưng Đaniel mỗi ngày vẫn 3 lần quì cầu nguyện và ngợi khen Thiên Chúa,
Đaniel đã phạm luật. Đaniel bị bắt.
“Tâu hoàng thượng, Đaniel đã chẳng đếm xỉa gì tới Ngài và lệnh cấm Ngài đã châu phê. Cứ mỗi ngày ba lần, y đã khẩn nguyện và cầu kinh với Thần của y.”
Vua muốn cứu nhưng họ đáp lại:
“Tâu hoàng thượng, Ngài biết là luật của dân Mê-di và Ba-Tư là mọi lệnh cấm và sắc chỉ nhà vua đã ban hành điều bất di bất dịch”
Đaniel bị ném vào hầm sư tử. Cửa hang được đóng ấn và niêm phong cẩn thận.
Suốt cả một đêm nhà vua không thể nào nhắm mắt.
Sáng sớm hôm sau nhà vua ra trước cửa hang và lên tiếng gọi:
“Đaniel tôi tớ của Thần linh hằng sống. Thần người bền đỗ phụng thờ có cứu ngươi khỏi nanh vuốt sư tử không?
Từ trong hầm tối Đaniel nói vọng ra:
“Hoàng đế vạn vạn tuế. Thiên Chúa của thần đã sai thiên thần xuống khóa miệng sư tử khiến chúng chẳng làm hại được thần. Bởi chưng trước mặt Người tôi được nhìn nhận là vô tội - Và cả trước mặt ngài tâu đức Vua, tôi cũng chẳng phạm một lỗi gì.”
Đaniel được tha, Những người tố cáo Đaniel bị ném và trong hầm sư tử. Và chúng ta biết sự việc sau đó như thế nào.
Trong Tân Ước chính Chúa Giêsu cũng đã được các thiên thần phục vụ.
+ Sau khi Chúa chịu ma quỉ cám dỗ trong hoang địa, khi Chúa đã hoàn toàn chiến thắng, Kinh Thánh ghi lại: “Các thiên thần đến để hầu hạ Người”
+ Tông Vụ Tông Đồ 5,17 thuật lại câu chuyện Phêrô được cứu thật hết sức lạ lùng: Bấy giờ, vị thượng tế cùng tất cả những người theo ông tức là phái Xađốc ra tay hành động. Đầy lòng ghen tức, họ bắt các Tông Đồ, nhốt vào nhà tù công cộng. Nhưng ban đêm thiên sứ của Đức Chúa mở cửa ngục, đưa các ông ra mà nói:”Các ông hãy đi, vào đứng trong Đền Thờ mà nói cho dân những lời ban sự sống.” Nghe thế, các ông vào Đền Thờ ngay từ lúc rạng đông và bắt đầu giảng dạy.
Khi thuộc hạ đến, họ không thấy các ông trong ngục. Họ trở về báo cáo rằng: “Chúng tôi thấy ngục đóng kỹ lưỡng và những người lính canh đứng ở cửa; nhưng khi mở cửa ra, chúng tơi không thấy ai ở bên trong.” Nghe những lời ấy, viên lãnh binh Đền Thờ và các thượng tế phân vân về các ông, không biết chuyện gì xảy ra. Bấy giờ có một người đến báo cáo cho họ: “Những người các ông đã tống ngục, kìa họ đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân! “ Viên lãnh binh bèn đi với bọn thuộc hạ và điệu các ông về, nhưng không dùng bạo lực vì sợ bị dân ném đá.
Xin được gửi đến anh chị em một câu chuyện thật dễ thương do cha Tiến Lộc sưu tầm:
Có một Linh Mục ở miền quê nước Pháp được mời đi xức dầu ban đêm cho một bệnh nhân nguy tử. Chợt nghĩ đến đoạn đường xa xôi heo hút, ngài đã định bỏ quay về vì sợ cướp bóc trấn lột. Nhưng rồi ý thức bổn phận và trách nhiệm của một Linh Mục, ngài lấy hết can đảm, vừa chuẩn bị túi hành trang, vừa cầu xin với Thiên Thần Bản Mệnh, rồi lên đường. Bệnh nhân là một cụ già đã được ban Bí Tích Xức Dầu, sáng hôm sau thì qua đời. Vị Linh Mục cũng trở về nhà bình an vô sự.
20 năm sau, vị Linh Mục đã già yếu, ngài xin về hưu nhưng vẫn phụ trách tuyên úy cho một trại tù tại thành phố. Một lần nọ, ngài được mời đến giải tội cho một tên tử tù. Thoạt tiên, khi biết có một Linh Mục vừa tới, anh ta quay lưng vào vách nhà giam, chửi rủa xua đuổi một cách hung hăng và hằn học, nhưng rồi khi chợt quay lại, anh ta liền thay đổi hẳn thái độ hẳn vì nhận ra khuôn mặt quen quen của vị Linh Mục già.
Anh ta rụt rè hỏi thăm về quá khứ 20 năm trước, nhưng vị Linh Mục già đã cố nhớ mà vẫn không nhận ra đã gặp anh tử tù này ở đâu. Đến lúc này thì anh ta cúi gục đầu và thuật lại đầu đuôi: Hóa ra dạo ấy, anh đang bị cảnh sát truy lùng về tội sát nhân, chạy giạt vào nấp trong khu vườn nhỏ gần nhà xứ. Anh đã nảy ra ý định sẽ rình giết vị Linh Mục để cướp chiếc áo chùng giả trang trốn đi nơi khác. Thế nhưng, đúng lúc đêm hôm khuya khoắt ấy, anh ta ngỡ ngàng trông thấy vị Linh Mục đã rời nhà xứ cùng đi với một thanh niên lực lưỡng theo sau...
Nghe đến đây, vị Linh Mục già hiểu ra mọi sự. Ngài quỳ xuống tạ ơn Chúa rồi kể tất cả cho người tử tù. Anh cũng quỳ vội xuống, ăn năn sám hối và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trong nước mắt mừng vui...
Xin được kết thúc bằng một bài thơ của Lê xuân Mai
Thiên thần bé nhỏ của tôi ơi
Hãy ở bên tôi suốt cuộc đời
Soi bước chân tôi trong chân lý
Chỉ biết đi tìm Chúa mà thôi.
Thiên thần bản mệnh của tôi ơi
Đam mê hoan lạc trong cuộc đời
Phù vân, bóng câu qua cửa sổ
Ngoảnh nhìn thử hỏi được mấy mươi.
Thiên thần chí ái của tôi ơi.
Giúp tôi đứng vững giữa vòm trời
Nhủ lòng thà chết không phản bội
Hiến chương Ga-li-lê xa xôi.
Thiên thần sáng láng của tôi ơi
Lộng giả thành chân biết bao người !
Cho tôi nhận rõ chân với giả
Hầu cảnh giác chị em tôi
Thiên thần dũng mãnh của tôi ơi
Bao lúc cô đơn muốn rã rời….
Hãy giúp cho tôi đừng vấp ngã.
Đến khi tới được nhà Cha tôi. Amen.
2/10 – THIÊN THẦN BẢN MỆNH
Mỗi người trong chúng ta đều được Chúa ban cho một “vệ sĩ,” đó là Thiên thần Bản mệnh – Thiên thần Hộ thủ. Nhiệm vụ của các ngài là tiến cử chúng ta với Thiên Chúa, luôn canh giữ chúng ta, giúp chúng ta cầu nguyện và giới thiệu chúng ta với Thiên Chúa khi chúng ta từ giã cõi đời này.
Khái niệm về Thiên thần Bản mệnh hướng dẫn và nuôi dưỡng mỗi người là cách phát triển của Giáo lý Công giáo và lòng sùng kính dựa vào Kinh Thánh. Trình thuật Mt 18:10 hỗ trợ niềm tin này: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”
Lòng sùng kính các Thiên thần Bản mệnh bắt đầu phát triển từ khi bắt đầu có truyền thống tu trì. Thánh Bênêđictô thúc đẩy việc này cùng với Thánh Bernard Clairvaux, nhà cải cách hồi thế kỷ XII, nhà hùng biện về Thiên thần Bản mệnh, và lòng sùng kính các thiên thần có từ hồi đó.
Lễ kính các Thiên thần Bản mệnh được cử hành lần đầu hồi thế kỷ XVI. Năm 1615, ĐGH Phaolô V thêm lễ này vào lịch Công giáo Roma.
Lễ kính các Thiên Thần Bản Mệnh được cử hành lần đầu hồi thế kỷ XVI. Năm 1615, ĐGH Phaolô V thêm lễ này vào Lịch Phụng Vụ Công Giáo Roma.
PHẨM TRẬT THIÊN THẦN
Cấp I : Bệ Thần, Dũng Thần, Minh Thần, Luyến Thần (thần sốt mến).
Cấp II : Quyền Thần, Quản Thần.
Cấp III : Thiên Thần, Tổng Thần, Lãnh Thần.
Ngày 02 tháng 10
CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ
Sự hiện hữu của các Thiên thần là một tín điều đức tin đã được Giáo hội nhiều lần xác định, từ Công đồng Nicêa cho đến Công đồng Vaticanô I. Tất cả những gì liên quan đến các Thiên thần thuộc về một lãnh vực nghiên cứu riêng, gọi là Thiên thần học (angéologie). Các Giáo phụ và nhiều nhà thần học lớn đã đào sâu lãnh vực này, đặc biệt về đời sống thiêng liêng của các Thiên thần, coi đó là một chủ đề quan trọng trong Huấn quyền. Giáo hội khẳng định rằng: các Thiên thần là những thụ tạo hoàn toàn thiêng liêng, không có thân xác, bất tử và bất biến. Các Thiên thần chỉ tỏ mình ra khi cần thi hành sứ mạng được Thiên Chúa trao phó.
Các Thiên thần là ai và có bao nhiêu?
Từ “thiên thần” (ange) chỉ về những thụ tạo trên trời, rất gần gũi với Thiên Chúa. Trong Kinh thánh, từ này được nhắc đến khoảng 175 lần trong Tân ước và 300 lần trong Cựu ước. Các Thiên thần hợp thành đạo binh thiên quốc, được phân chia thành nhiều phẩm trật: các thần Kêrubim, Seraphim, các Bệ thần, Quản thần, Quyền thần, Dũng thần, Lãnh thần, Tổng lãnh Thiên thần và Thiên thần. Họ là thuần túy thiêng liêng, có trí khôn và ý chí, được coi như các sứ giả và thừa hành mệnh lệnh của Thiên Chúa. Chính vì thế, các Thiên thần thường xuất hiện trong những biến cố quan trọng của lịch sử cứu độ.
Công đồng Latêranô IV cũng xác tín như một chân lý đức tin rằng: Một số Thiên thần, do lạm dụng tự do của mình, đã sa ngã trong tội lỗi; tiêu biểu là Luxiphe, vị đẹp nhất trong các Thiên thần, nhưng vì kiêu ngạo chống lại Thiên Chúa, đã bị xua xuống hỏa ngục.
Giáo hội dạy rằng các phẩm Thiên thần được phân biệt theo nhiệm vụ và những đặc tính riêng: chẳng hạn, các thần Seraphim là những Thiên thần gần Thiên Chúa nhất, thường được mô tả với sắc đỏ, biểu tượng cho ngọn lửa tình yêu cháy bỏng; còn các thần Kêrubim thường được vẽ với đôi cánh đầy mắt, như cánh chim công (diễn tả sự hiểu biết và ánh sáng thiêng liêng).
Thiên thần Hộ thủ
Trong số những sứ mạng của các Thiên thần được Kinh thánh nhắc đến, có sứ mạng đồng hành với con người trên đường lành, và dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện cùng hy sinh của chúng ta. Đó chính là vai trò của Thiên thần Hộ thủ. Đây là một chân lý đức tin, nhưng ngày nay lại ít được nhấn mạnh trong lòng đạo đức bình dân, thường chỉ còn thấy nơi các bài giáo lý cho thiếu nhi.
Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một Thiên thần Hộ thủ. Các ngài hiện diện âm thầm, đồng hành và hướng dẫn cho mỗi người suốt cuộc đời. Thiên thần Hộ thủ chính là người bạn đường, tấm gương sáng, và như một người anh lớn nâng đỡ chúng ta.
Qua nhiều thế kỷ, các Thiên thần, dù vô hình, đã được khắc họa bằng nhiều hình ảnh nghệ thuật thường thấy như trong tư thế thờ lạy trước nhan Thiên Chúa; hay trong dáng vẻ sầu khổ nơi các bức hoạ về cảnh tháo xác Chúa khỏi Thánh giá; cũng có khi hiện diện như những nhạc công trong hang đá giáng sinh, hoặc như những chiến sĩ can trường chống lại ma quỷ.
Nguồn gốc phụng vụ kính nhớ
Lễ nhớ các Thiên thần Hộ thủ được cử hành vào ngày 02 tháng 10, do Đức Giáo hoàng Clêmentê X thiết lập năm 1670. Trong khi đó, Giáo hội Chính Thống cử hành ngày lễ này vào ngày 11 tháng Giêng. Trước kia, lễ này được cử hành ngày 29 tháng 9 cùng với lễ kính ba Tổng lãnh Thiên thần Micael, Gabriel và Raphael; nhưng sau đó đã được tách riêng để kính nhớ đặc biệt các Thiên thần Hộ thủ, khởi đi từ Tây Ban Nha vào thế kỷ V, rồi mở rộng sang Bồ Đào Nha, Áo, và khắp Âu châu.
Thực ra, lòng sùng kính các Thiên thần đã có từ rất sớm, thậm chí trước cả lòng sùng kính các Thánh. Vào thời Trung cổ, việc tôn kính các Thiên thần được nuôi dưỡng mạnh mẽ nơi các ẩn sĩ sống đời cầu nguyện, thinh lặng, chiêm niệm và chỉ có sự hiện diện đồng hành của Thiên thần Hộ thủ.
Năm 2005, Quốc hội Ý đã chọn ngày 02 tháng 10 - lấy cảm hứng từ hình ảnh các Thiên thần Hộ thủ - để thiết lập ngày Ông Bà, như những “Thiên thần Hộ thủ” của gia đình.
“Lạy Thiên thần của Thiên Chúa, Đấng hằng giữ gìn con, nhờ lòng nhân lành Chúa trao phó, xin ngài đoái thương trong ngày (hoặc đêm) hôm nay, soi sáng, gìn giữ, hướng dẫn và cai quản con. Amen.”
Maria Hải Châu, SSS.
Chuyển ngữ từ: vaticannews.va/fr
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn