SUY NIỆM TIN MỪNG MỖI NGÀY
TUẦN 8 THƯỜNG NIÊN
THỨ HAI
1Pr 1,3-9; Mc 10,17-27
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu vừa lên đường, thì một người chạy lại, quỳ gối xuống trước Người và hỏi: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?” Chúa Giêsu trả lời: “Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ”. Người ấy thưa: “Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ”. Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: “Ngươi chỉ còn thiếu một điều là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”. Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Lúc đó Chúa Giêsu nhìn chung quanh, và bảo các môn đệ rằng: “Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao”. Các môn đệ kinh ngạc vì những lời đó. Nhưng Chúa Giêsu lại nói tiếp và bảo các ông rằng: “Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa”.
Suy niệm
Các ông càng kinh ngạc hỏi nhau rằng: “Như vậy thì ai có thể được cứu độ?” Chúa Giêsu chăm chú nhìn các ông, và nói: “Ðối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự”.
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta về đời sau. Đó là sự sống đời đời vinh phúc mà Chúa ban tặng làm cơ nghiệp cho những ai dám từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa.
Câu chuyện người thanh niên giàu có là bài học liên quan đến cám dỗ đến của cải vật chất của chúng ta. Của cải làm cản trở con đường hoàn thiện của chàng thanh niên. Anh là người tốt, là người đạo đức, vì anh đã giữ các giới răn từ thuở bé. Một tín hữu bình thường có thể cho như thế là đủ và tự hài lòng với đời sống như vậy.
Nhưng chàng thanh niên giàu có này chưa yên tâm, anh muốn gặp Chúa Giêsu và xin Chúa chỉ giáo thêm. Anh muốn biết rõ hơn anh còn phải làm gì nữa ngoài những điều anh đã làm. Quả anh có thiện chí, anh sẵn sàng làm thêm nhiều việc khác nữa nếu cần để được hưởng sự sống đời đời.
Chúa Giêsu không đòi anh ta làm thêm điều gì ngoài sự từ bỏ của cải: “Ngươi chỉ thiếu một điều: đi đi! Có gì thì đem bán mà cho kẻ khó, và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời, đoạn hãy theo Ta!”.
Có lẽ chàng thanh niên đã giật mình. Anh không nghĩ Chúa đòi một điều quá sức anh như thế. Anh sẵn sàng chu cấp lương thực cho Chúa Giêsu và các môn đệ. Anh sẵn sàng xây nhà thờ, bệnh viện, trạm xá… nhưng đem bán hết mà cho kẻ khó để bản thân chỉ còn hai bàn tay trắng quả là điều anh không thể làm. Anh không thể đi theo Chúa trong cảnh nghèo khó. Anh bỏ Chúa để rút lui, “sầm mặt”, “buồn sầu”.
Chấp nhận bỏ hết mọi sự, trở nên nghèo khó như Chúa, đi theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi, sống một cuộc đời lưu động không nhà cửa, không có gối gối đầu, không bám víu vào bất cứ thứ gì thuộc trần gian, chỉ đặt niềm tin tuyệt đối vào Chúa quan phòng, đó là lý tưởng, đó là sự hoàn thiện Phúc Âm.
Chàng thanh niên giàu có không vươn mình lên đến lý tưởng. Anh dừng lại ở mức đạo đức bình thường: tiếp tục giữ đủ các giới răn, thụ hưởng sự giàu có của mình.
Có thể coi đây là một sự thất bại của một ơn gọi. Chàng thanh niên không làm được điều ông Phêrô và các môn đệ đã làm. Họ đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu. Chắc chắn chàng thanh niên giàu có sẽ mất hết những của cải mà anh muốn giữ. Anh sẽ vào thiên đàng cách vất vả giống như con lạc đà chiu qua lỗ kim. Chỉ có Chúa tốt lành quảng đại dùng quyền năng của Chúa mới kéo anh qua lọt.
THỨ BA
1Pr 1,10-16; Mc 10,28-31
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Ðây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?” Chúa Giêsu trả lời rằng: “Thầy bảo thật các con, chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng vì Thầy và vì Phúc Âm, mà ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ, và ở đời sau được sự sống vĩnh cửu. Nhưng có nhiều kẻ trước nhất sẽ nên rốt hết, và những kẻ rốt hết sẽ nên trước nhất”.
Suy niệm
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay tiếp nối tư tưởng của ngày hôm qua: những điều kiện phải có để được Chúa ban thưởng đời này và đời sau.
Sau khi chàng thanh niên giàu có buồn sầu bỏ đi vì anh không có can đảm từ bỏ của cải anh có như Chúa đòi hỏi, ông Phêrô liên tưởng đến trường hợp của ông và của anh em trong nhóm môn đệ. Anh thanh niên tiếc của, tiếc cảnh giàu sang của mình, anh không sống được con đường hoàn thiện Phúc Âm, chứ còn ông Phêrô và các môn đệ khác, họ đã thực hiện được điều Chúa đòi hỏi. Ông Phêrô như muốn lưu ý Chúa Giêsu: “Này chúng tôi từ bỏ mọi sự mà đi theo Thầy”. Thánh Matthêu còn ghi rõ hơn nữa: “Này chúng tôi từ bỏ mọi sự mà đi theo Thầy, vậy thì phần thưởng chúng tôi sẽ ra sao?” (Mt 19,27).
Ông Phêrô không muốn bị thiệt thòi, ông đòi hỏi phần thưởng chăng? Hay ông chỉ muốn biết chắc rằng bản thân ông và các bạn không làm điều gì vô ích khi họ bỏ hết mọi sự mà đi theo Chúa Giêsu?
Chúa Giêsu không trách ông Phêrô. Điều đó chứng tỏ ông đã đặt câu hỏi cách thành tâm, mặc dầu phần nào nơi ông còn mang tinh thần vụ lợi khi theo Chúa Giêsu. Chúng ta có thể nghĩ, ông Phêrô hy sinh con tép để chờ bắt được con tôm. Nhưng đó cũng là điều chính đáng, ai dám đánh đổi tất cả mà không nắm chắc điều mình sẽ được. Ông Phêrô không muốn thả mồi bắt bóng.
Câu trả lời của Chúa Giêsu thật rõ ràng, thỏa mãn mọi thắc mắc của ông Phêrô, đánh tan mọi lo nghĩ nơi ông: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: không ai bỏ nhà cửa, anh em chị em, cha mẹ, con cái, ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng, mà lại không lãnh lấy gấp trăm bây giờ ở đời này về nhà cửa, anh em và chị em, mẹ và con cái cùng ruộng nương… và sự sống đời đời trong thời sẽ đến”.
Con đường đi theo Chúa, ngoài những từ bỏ thông thường như trên, tức tài sản và người thân, trong thời bách hại, còn phải chịu “cấm cách và bắt bớ” nữa. Nhưng người môn đệ của Chúa nắm chắc tương lai huy hoàng của mình, sẽ không ngần ngại hy sinh tất cả vì Chúa. Dù phải “bỏ mạng” nếu cần, người môn đệ cũng phải sẵn sàng, vì đó là dấu chứng tỏ quyết liệt hơn cả của “tình yêu lớn nhất” dành cho Chúa.
Ước gì thánh lễ chúng ta cử hành đưa chúng ta vào mầu nhiệm tình yêu trao ban trọn vẹn của Chúa Giêsu, để đến lượt chúng ta, chúng ta cũng sẵn sàng trao ban trọn vẹn cho Chúa và cho anh em.
THỨ TƯ
1Pr 1,18-25; Mc 10,32-45
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem, Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ, và các ông hết sức bỡ ngỡ, những người theo sau thì sợ hãi. Người gọi mười hai ông lại gần và nói cho các ông biết những gì sẽ xảy đến cho Người: “Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế, các luật sĩ và các kỳ lão. Họ sẽ kết án tử hình Người và nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo cười Người, phỉ nhổ vào Người, đánh đòn và giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại”.
Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đến gần Người và thưa Người rằng: “Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy”. Người đáp: “Các con muốn Thầy làm gì cho các con?” Các ông thưa: “Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy”. Chúa Giêsu bảo: “Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?” Các ông đáp: “Thưa được”. Chúa Giêsu bảo: “Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định”. Mười môn đệ khác nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: “Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người”.
Suy niệm
Người Kitô hữu luôn tin vào tình yêu Thiên Chúa, tin thật mạnh mẽ để không bị lung lạc bởi những cám dỗ ở đời này. Chúa Giêsu Kitô đã rửa hết quá khứ xấu xa của họ bằng máu châu báu của Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã giải thoát họ để họ được hưởng vinh quang phục sinh với Chúa. Mọi sự sẽ qua đi như hoa cỏ, nhưng cuộc sống hạnh phúc mai sau sẽ bất diệt. Cuộc sống ấy Chúa dành cho các môn đệ trung thành đi theo Chúa đến cùng, đến tận đỉnh cao của mầu nhiệm tử nạn.
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu và các môn đệ đi lên Giêrusalem. Thánh Marcô chỉ ghi lại một cuộc đi lên Giêrusalem duy nhất, và đó là chuyến đi cuối cùng. Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem để hoàn tất sứ vụ cứu thế Chúa Ngài. Chúa Giêsu lên đón nhận cái chết đau đớn trên thập giá để giải thoát loài người khỏi sự chết đời đời.
Chúa Giêsu đi trước mọi người. Chúa đi như một người mục tử tốt, đi tiên phong vào nơi nguy hiểm còn các môn đệ thì đi theo sau. Hôm ấy không phải chỉ Nhóm Mười Hai đi theo Chúa Giêsu, nhưng còn có cả một đám đông dân chúng nữa. Các môn đệ thì “kinh hoàng”, dân chúng thì “sợ hãi”. Hẳn ai nấy điều biết mối nguy hiểm đang chờ đợi Chúa Giêsu ở Giêrusalem.
Chúa Giêsu biết rõ mối nguy hiểm ấy, Chúa báo trước cho các môn đệ mọi sự sắp xảy đến cho Ngài ở Giêrusalem. Chúa Giêsu sẽ bị nộp cho các thượng tế và ký lục, Chúa sẽ bị kết án tử, bị trao cho dân ngoại, bị nhạo báng, bị khạc nhổ vào đầu vào mặt, bị đánh đòn và bị giết, ba ngày sau Chúa sẽ sống lại, nhưng Chúa Giêsu vẫn cứ tiên lên.
Trong tình trạng nguy kịch như thế, các môn đệ vẫn cứ suy tính những chuyện thế gian. Ông Giacôbê và ông Gioan bận tâm đến những địa vị cao trọng. Các môn đệ khác cũng mơ tưởng những địa vị ấy nên mới phẫn uất với hai ông. Quả họ chẳng hiểu gì cả. Chúa Giêsu nói đến “chén đắng” và thứ “thánh tẩy” mà Chúa sắp phải uống phải chịu, chắc chắn các ông chưa hiểu gì nhưng vẫn cứ trả lời cách dễ dàng các ông uống được, chịu được tất cả.
Chúa uốn nắn tư tưởng của các môn đệ. Họ còn nhìn Nước Trời theo tổ chức một nước thế gian. Họ chờ đợi được làm lớn để truyền lệnh cho người khác, được ăn trên ngồi trốc và có kẻ hầu người hạ. Chúa Giêsu dạy họ làm ngược lại những gì thế gian làm: làm lớn, làm đầu thì phải phục vụ, phải hầu hạ, phải làm tôi tớ mọi người. Bản thân Chúa Giêsu đã làm tôi tớ mọi người đến độ hy sinh cả tính mạng vì loài người. Bài học này Chúa Giêsu còn lặp lại một lần nữa vào tối thứ Năm Tuần Thánh, vào cuối bữa tiệc ly.
Bí tích bàn thờ chúng ta tiếp tục cử hành tái diễn lại biến cố Chúa thí mạng sống mình để phục vụ sự sống của chúng ta. Chúng ta sốt sắng đi theo Chúa, đi vào mầu nhiệm tự hủy của Chúa để Chúa biến đổi chúng ta trở thành những con người mới theo hình ảnh của Ngài.
THỨ NĂM
1 Pr 2,2-5.9-12; Mc 10,46-52
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”. Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi”.
Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì cho anh”? Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Ðược, đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.
Suy niệm
Câu chuyện Chúa Giêsu chữa anh mù ở thành Giêricô làm rõ thêm vai trò Thiên Sai Cứu Thế của Chúa Giêsu. Ba năm về trước, tại hội đường làng Nazareth, Chúa Giêsu đã đọc đoạn sách ngôn sứ Isaia cho dân chúng nghe và tiếp đó Chúa Giêsu tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn sách này nơi tai các ngươi” (Lc 4,21).
Đoạn sách mà Chúa Giêsu đọc hôm đó như sau: “Thần Khí ngự trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đi đem Tin Mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đày, cho người đui mù được thấy, cho kẻ bị áp bức được giải oan, loan báo năm hồng ân của Chúa”.
Anh mù Báctimê không được diễm phúc nhìn thấy quang cảnh ngày đại lễ, anh không có may mắn lên Giêrusalem mừng lễ vượt qua. Trong khi người người tấp nập lên Giêrusalem dự lễ, anh vẫn chỉ cứ ngồi bên vệ đường chờ đợi lòng hảo tâm của người qua lại, có chăng là vào những dịp như thế, anh xin được nhiều của bố thí hơn vì có nhiều người đi qua lại con đường đó hơn.
Hôm ấy có Chúa Giêsu đi qua, anh không thấy Chúa, nhưng anh nghe tiếng ồn ào huyên náo, anh nghe những lời xì xầm bàn tán. Chắc chắn anh đã nghe nói về Chúa Giêsu là Đấng làm được những điều kỳ diệu, và lần này Chúa đang đi ngang qua nơi anh ngồi. Anh tràn trề hy vọng, đức tin của anh đã mở ra, lòng anh đã bừng sáng dù mắt anh vẫn còn mù tối. Anh kêu gào lòng thương xót của Chúa Giêsu, bất chấp những lời quát mắng của những người xung quanh. Càng lúc anh càng la to hơn: “Giêsu con Đavít, xin thương xót tôi! Lạy Con Đavít, xin thương xót tôi!”
Trước lòng tin của anh, Chúa đã cho anh được lành. Thế là anh ta được nhìn thấy ánh sáng, anh nhìn thấy Chúa Giêsu, nhìn thấy mọi người. Còn gì vui bằng! Anh như quên hết mọi sự, từ bỏ cảnh ngòi ăn xin vệ đường, từ bỏ cái quá khứ đen tối. Từ đây anh có thể đứng lên, bước vào giữa đường để cùng bước đi với mọi người, hai mắt nhìn thẳng về phía trước, anh đăm đăm nhìn Đấng là Ánh Sáng đi trước anh. Thánh Marcô nói: “Anh theo Người lên đường”.
Chúng ta cũng giống như anh mù Batimê, chúng ta đã được Chúa xót thương, chúng ta đã được Chúa đưa ra khỏi chốn tối tăm và dẫn vào ánh sáng huyền diệu của Ngài. Vậy chúng ta hãy bắt chước anh mù, cùng lên đường đi theo Chúa Giêsu để tôn vinh Ngài.
THỨ SÁU
1Pr 4,7-13; Mc 11, 11-26
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
(Khi nghe dân chúng hoan hô), Chúa Giêsu vào thành Giê-rusalem, lên đền thờ và sau khi đã đưa mắt quan sát mọi sự, và lúc trời đã xế chiều, Người ra về Bêtania cùng với nhóm mười hai. Hôm sau, khi thầy trò rời bỏ Bêtania, Người thấy đói. Và khi thấy ở đàng xa có một cây vả nhiều lá, Người đến xem coi có trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người chỉ thấy có lá thôi, vì không phải là mùa có trái. Người phán bảo cây vả rằng: “Cho đến muôn đời sẽ không còn ai ăn trái của mi nữa”. Và các môn đệ đã nghe Người nói.
Các ngài đến Giêrusalem. Và khi vào đền thờ, Chúa liền đuổi những người mua bán ở đó. Người xô đổ bàn của những người đổi tiền và ghế của những người bán chim câu. Người không để cho ai mang đồ vật đi ngang qua đền thờ. Người dạy bảo họ: “Nào chẳng có lời chép rằng: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dận tộc ư? Thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp”. Ðiều đó đến tai các trưởng tế và luật sĩ, họ liền tìm cách giết Người, vì họ sợ Người, bởi tất cả dân chúng say mê giáo lý của Người. Chiều đến, Người ra khỏi thành.
Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, các ngài trông thấy cây vả đã chết khô tận rễ. Phêrô nhớ lại và thưa Chúa rằng: “Lạy Thầy, hãy coi, cây vả Thầy nguyền rủa đã chết khô rồi”. Chúa Giêsu đáp: “Hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu ai bảo núi kia: “Hãy dời đi và gieo mình xuống biển”, mà trong lòng không hồ nghi, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì người ấy sẽ được như ý. Vì vậy Thầy bảo các con: Tất cả những gì các con cầu xin, hãy tin rằng các con sẽ được, thì các con sẽ được điều đó. Và khi các con đang đứng cầu nguyện, nếu các con có điều gì bất thuận với ai, hãy tha thứ để Cha các con trên trời cũng tha cho các con. Nếu các con không tha thứ, thì Cha các con trên trời cũng không tha tội cho các con”.
Suy niệm
Nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, hẳn chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thắc mắc: tại sao cây vả phải khô héo cách vô tội? Tại sao Chúa Giêsu nhân từ, hiền lành, mà lại có những hành động thô bạo giữa thanh thiên bạch nhật? Chúng ta đi tìm giải đáp cho những thắc mắc ấy bằng những soi sáng của Lời Chúa.
Trước hết chúng ta tìm hiểu chuyện cây vả: Chúa Giêsu và các môn đệ nghỉ đêm ở Bêtania, sáng hôm sau, thầy trò bỏ Bêtania đi Giêrusalem. Chúa đói, Chúa thấy xa xa một cây vả có lá, có lẽ cây vả “có lá” là dấu hiệu có trái, vì cây nảy lộc và trổ bông kết trái cùng một lúc. Chúa đến cây vả ấy tìm trái nhưng vẫn chỉ có lá. Thế là Chúa chúc dữ cho cây vả ấy và hôm sau đi ngang qua đấy, cây vả đã chết khô.
Chúng ta cảm thấy khó hiểu. Chúa vẫn thường lui tới nhà chị em Mattha, Maria và Lazarô nghỉ ngơi mỗi lần đi lên Giêrusalem. Bình tường mấy chị em vẫn tiếp đãi Chúa tử tế, chẳng lẽ hôm ấy Chúa không được ăn sáng trước khi ra đi, chẳng lẽ thầy trò không mang lương thực đi đường nên Chúa phải đói. Thánh Marcô còn ghi một câu khó hiểu hơn nữa: “vì không phải là mùa trái” vậy Chúa bị lầm sao? Chúa không biết đó chưa phải là mùa dẻ ra trái? Và khoảng cách từ vùng ngoại ô Bêtania vào thành phố Giêrusalem chỉ có mấy cây số, giải quyết cơn đói bằng ít hạt dẻ không phải là điều quan trọng.
Ý nghĩa chuyện cây vả chính là bài học Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ. Nhìn thấy cây vả bị chúc dữ mà chết khô, các môn đệ ngạc nhiên. Đó là cơ hội Chúa cho họ thấy sức mạnh của đức tin. Người tin vào Thiên Chúa mà cầu nguyện kêu xin, Thiên Chúa sẽ thực hiện cách lạ lùng. Chẳng có gì mà Thiên Chúa không làm được. chẳng những bắt cây vả chết khô mà truyền cho ngọn núi đổ nhào xuống biển cũng vẫn được. Nhưng phải cầu nguyện với lòng tin tưởng, trong tâm hồn bình an vì đã tha thứ cho anh em và bản thân mình đã được Chúa tha thứ.
Chuyện cây vả không ra cho trái bị khử trừ liên hệ đến việc Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ sau đó. Đền thờ là nhà cầu nguyện, nhưng đã bị xúc phạm, bị biến chất vì những hành vi sai trái của những kẻ lợi dụng. Họ biến nơi thánh thiện ấy thành nơi buôn bán. Họ chớp cơ hội để làm giàu. Chúa Giêsu còn nói mạnh hơn nữa: họ đã làm cho đền thờ thành “hang trộm cướp”. Và điều đó Chúa không chấp nhận được. Chúa Giêsu đến sửa sang mọi sự. Và lòng nhiệt thành thánh thiện đã thúc bách Chúa hành động mạnh tay: đuổi người buôn bán, lật nhào bàn ghế của phường đổi bạc, của quân bán bồ câu…
Tất cả những thứ đó không còn ý nghĩa nữa, chúng cũng chung số phận với cây vả không có trái. Chúa đến thiết lập nghi lễ mới, lế tế mới. Chúa lật đổ những thứ cũ kĩ như tiền bạc và chim bồ câu là những thứ dâng cúng trong đền thờ của đạo cũ. Từ nay lế tế là chính lòng con người, là trái tim của con người: lòng bác ái yêu thương, lòng tha thứ khoan dung, lòng chính trực, lòng thanh sạch, lòng sám hối, lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa, xứng hợp với hy tế mới là chính Đức Kitô.
THỨ BẢY
Gđ 17,206-26; Mc 11,27-37
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ lại đến Giêrusalem. Và trong khi Chúa Giêsu đi lại trong đền thờ, thì những trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão đến hỏi Người: “Ông lấy quyền nào mà làm sự đó? Và ai đã ban quyền cho ông để làm như vậy?” Chúa Giêsu đáp: “Tôi sẽ hỏi các ông một câu thôi, hãy trả lời cho Tôi thì Tôi sẽ bảo cho các ông hay Tôi lấy quyền nào mà làm việc đó: Phép rửa của Gioan bởi trời hay bởi người ta? Hãy trả lời Tôi đi”. Họ liền bàn riêng với nhau rằng: “Nếu chúng ta trả lời “Bởi trời”, ông ấy sẽ nói: “Vậy sao các ông không tin Người?” Nhưng nếu chúng ta nói “Bởi người ta”, chúng ta sợ dân chúng, vì mọi người đều coi Gioan thật là một tiên tri. Vậy họ thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Chúng tôi không biết”. Và Chúa Giêsu bảo họ: “Vậy thì tôi cũng không nói cho các ông biết bởi quyền phép nào Tôi làm sự đó”.
Suy niệm
Chúa Giêsu quyết bảo vệ sự thanh sạch và thánh thiện của đền thờ. Những hành động của Chúa Giêsu hẳn đã làm mất lòng nhiều người, nhất là những người bị cản trở trong nghề làm ăn. Tuy nhiên, nguy hiểm cho Chúa Giêsu hơn cả chính là giới lãnh đạo Do Thái giáo. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy các thượng tế, ký lục, và hạng niên trưởng đã ra mặt đối đầu với Chúa Giêsu.
Ngay trong bài Tin Mừng hôm qua, thánh Marcô ghi rõ nhóm người ấy đã tìm cách làm sao hại Chúa Giêsu rồi. Họ chưa dám ra tay chỉ vì họ sợ dân chúng, bởi vì dân chúng tín nhiệm vào Chúa Giêsu: “Dân chúng hết thảy đều kinh ngạc về giáo huấn của Ngài” (Mc 11,18). Hôm nay, họ cũng sợ dân chúng nên không dám trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu đặt ra về ông Gioan Tẩy Giả: “Họ ngại sợ dân chúng, vì mọi người đều coi Gioan thực là một tiên tri”. Họ trách né, không dám nhìn nhận sự thật. Trong sự bàn tính giữa họ với nhau, họ đã tự tố cáo họ không tin vào ông Gioan. họ gỡ kẹt cho mình bằng một câu trả lời giả dối: “Chúng tôi không biết”.
Chúa Giêsu không trực tiếp trả lời cho các thượng tế và ký lục liên quan đến quyền hành động của Chúa, vì Chúa biết họ đã sẵn ý đồ âm mưu hại Chúa Giêsu, họ cố chấp và đóng cửa lòng mình lại rồi, họ không có khả năng nhìn nhận sự thật nên Chúa Giêsu có nói ra sự thật họ cũng không tin.
Có thể nghĩ họ đặt câu hỏi vì tự ái. Chính họ nắm giữ quyền hành ở đền thờ, những gì được phép hoặc không được phép đều do họ định đoạt. Họ có thể bán chỗ, cho buôn bán trong đền thờ để thu lợi, hoặc những tay buôn bán ấy cũng là người của họ. Vậy đối với họ, Chúa Giêsu là ai mà dám tự đuổi những người buôn bán và còn đi lại trong đền thờ để giảng dạy?
Đối với chúng ta ngày nay, chúng ta không còn thắc mắc về quyền hành của Chúa Giêsu như những người thượng tế và ký lục Do Thái. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Chúa Giêsu có quyền bính tối cao trên mọi uy quyền. Chúa Giêsu có sứ mạng đến đổi mới mọi sự. Tế tự cũ, đền thờ cũ, đạo cũ đã trở nên cây vả già cỗi, bề ngoài cành lá xum xuê nhưng không còn khả năng sinh trái. Đã đến lúc những gì không sinh hoa kết quả sẽ ra khô héo.
Phần chúng ta, chúng ta hãy để Chúa tự do hành động. Chúa Giêsu lật đổ cái ngổn ngang không cần thiết trong chúng ta và biến chúng ta trở nên một đền thờ xứng đáng cho Chúa chiếm ngự.