Ngày 24 tháng 8
THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ
TÔNG ĐỒ
I. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ
Trong danh sách các Tông Đồ, Thánh Ba-tô-lô-mê-ô thường được 3 Phúc Âm Nhất Lãm nhắc đến (Mt 10,3; Mc gọi Ngài là Bar-Tolmai; ngài được Phúc Âm Gioan gọi là Nathanael (Ga 1,45-51). Người ta đoán rằng Nathanael là một thầy thông luật hay đệ tử của trường phái luật sĩ.
Theo truyền thuyết, Nathanael rao giảng ở Ấn Độ, Mésopotamie và nhất là ở Arménie, cuối cùng chịu tử đạo tại đây. Di hài của ngài sau đó được chuyển về đảo Lipara và về Benevent. Hoàng đế Otto III cho chuyển về Rôma và đặt ở một cồn nhỏ trên sông Tibre. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
Trong Tin Mừng Gioan, Nathanael là người môn đệ thứ tư được Chúa Giêsu kêu gọi.
- Khi Philipphê nói với Nathanael rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia, Nathanael tỏ vẻ hoài nghi, bởi vì theo ông, Đấng Messia không thể xuất thân từ một nơi mà Thánh Kinh không bao giờ nói tới như Nazareth. Quả thực, sự tương phản giữa quan niệm về một Đấng Messia vinh quang với nguồn gốc hèn hạ của Đức Giêsu chính là một sự vấp phạm của mầu nhiệm nhập thể. Đức tin phải vượt qua cớ vấp phạm này để nhận ra Đức Giêsu xuất thân từ Nazareth tầm thường ấy chính là Đấng Messia. Một số người Do thái đã không thể vượt qua như vậy, họ nói: “Ông này không phải là con của Giuse đấy ư? Chúng ta há không biết cha mẹ của ông ta sao? Thế mà tại sao bây giờ ông ta lại tuyên bố rằng ta từ trời xuống? (6,42)
- Đức Giêsu nói với Nathanael “Trước khi Philipphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh”: Trong Gioan, Đức Giêsu thường tỏ ra am tường các biến cố và những con người (2,25 6,61 13,1). Hình ảnh cây vả hơi mơ hồ: có người hiểu đó là nơi các rabbi thích ngồi để nghiên cứu Thánh Kinh; có người nghĩ đến cây biết tốt xấu trong vườn địa đàng. Có lẽ ý nghĩa ở đây là: Nathanael là người thích suy gẫm Thánh Kinh để biết về Đấng Messia, và Đức Giêsu cho ông hay rằng những lời tiên báo về Đấng Messia ấy đã được thực hiện nơi Ngài.
- Lời của Đức Giêsu khiến Nathanael xúc động đến nỗi ông gọi Ngài bằng 2 tước hiệu “Con Thiên Chúa” và “Vua Israel”.
a/ Trong Gioan, tước hiệu “Vua Israel” đồng nghĩa với tước hiệu Messia nhưng ít màu sắc chính trị hơn tước hiệu “Vua dân Do Thái” được nhắc tới trong cuộc chịu nạn của Ngài (18,33.39 19,3 19,21). Khi Ngài vào thành Giêrusalem, dân chúng cũng tung hô Ngài bằng tước hiệu “Vua Israel” (12,13).
b/ Còn tước hiệu “Con Thiên Chúa” chính là tước hiệu được gán cho Ngài khi Ngài đăng quang làm Messia (x. 2Sm 7,14).
- Nathanael sẽ “được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa”: bây giờ Đức Giêsu chỉ mới mạc khải với ông bằng lời, sau này Ngài sẽ còn dùng dấu chỉ để loan báo tương lai, nhất là dấu chỉ Cana trong đó Ngài sẽ “biểu lộ vinh quang của Ngài”.
- Đức Giêsu có nhắc tới việc “thiên thần Chúa lên xuống”. Có thể có liên hệ với chiếc thang Giacóp trong St 28,12 “Này đây được dựng từ đất một chiếc thang mà đầu cuối chạm tới trời; các thiên sứ lên xuống trên thang đó”. Như thế, chi tiết này muốn nói rằng trong tư cách là “Con Người”, Đức Giêsu chính là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người, giữa trời và đất.
II. BÀI HỌC
Hình ảnh đẹp nhất trong câu truyện của Nathanael hôm nay là việc ông được Philipphê dẫn đến với Chúa và sau khi gặp được Chúa ông đã thấy Chúa như thế nào.
Nếu không được Philipphê dẫn đến và giới thiệu với Chúa thì chưa chắc gì chúng ta đã có một Nathanael-Batholômêo một tông đồ của Chúa như hôm nay.
Đọc lại Tin Mừng chúng ta cũng thấy có những trường hợp đẹp như vậy.
Nếu Andrê không dẫn Simon đến với Chúa Giêsu, thì chắc gì chúng ta đã có một Phêrô làm đầu Hội thánh ?
Nếu Andrê không dẫn em bé có 5 chiếc bánh và 2 con cá đến với Chúa thì chắc gì chúng ta được chứng kiến một phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Nếu Andrê không đưa những người Hy lạp đến gặp Chúa, làm sao họ tin Chúa?...
Nếu chúng ta không đem Chúa đến cho anh chị em chúng ta, làm sao họ nhìn biết Chúa mà được Người cứu rỗi ?
Thánh Phaolô xác quyết: Nếu không có người rao giảng, làm sao anh chị em chúng ta biết Chúa?
Như thế Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay nhắc cho chúng ta: Chúng ta có bổn phận giới thiệu Chúa Giêsu cứu thế cho anh chị em, đồng bào đồng loại của chúng ta, để họ tìm đến Người, tin kính Người, hầu được cứu chữa phần hồn phần xác.
Sở dĩ cuộc sống của con người trên thế giới hôm nay chưa tìm được hạnh phúc là vì còn quá nhiều người chưa biết Chúa. Đó là một thực tế đáng buồn cho tất cả mọi người.
Hãy mở mắt ra mà xem cuộc sống ở một nơi gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài thì cuộc sống sẽ như thế nào.
Theo bản thống kê thì trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Đức Quốc Xã đã thiết lập 200 trại tập trung để giam giữ tù binh và chính trị phạm, trong đó đa số là người Do thái. Đặt biệt, người ta nhắc đến trại hãi hùng khủng khiếp nhất như Dachau ở Đức và Auschwitz ở Ba lan. Có khoảng 09 triệu người thuộc 23 quốc tịch khác nhau đã bị tiêu diệt trong trại tập trung này. Riêng nạn nhân người Do thái lên đến 06 triệu.
Khi quân đồng minh đến giải phóng một trong các trại tập trung họ thấy ngoài cổng có một tấm bảng ghi các dòng chữ sau: “Ở đây không có Thiên Chúa”. Thấy cảnh tượng ghê tởm ấy, người ta không biết phải làm gì hơn là lấy cỏ che phủ lại làm nên một quả núi nhân tạo và trên đó dựng lên một cây Thánh Giá lớn để nói cho con người của thời đại biết rằng: Khi con người chối bỏ Thiên Chúa thì cũng đối xử với nhau tàn bạo hơn súc vật như vậy.
Bất cứ một sự chối bỏ Thiên Chúa nào cũng hàm chứa sự chối bỏ con người; và ngược lại, bất cứ sự chối bỏ và chà đạp nào đối với con người cũng là một sự chối bỏ chính Thiên Chúa.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta hôm nay biết dẫn những anh chị em chúng ta, những người chưa biết Chúa đến với Chúa để Chúa biến đổi cuộc đời của họ nên giống Chúa làm cho thế giới chúng ta đang sống được hạnh phúc hơn.
Mẹ Têrêsa thành Calcutta, một lần nọ, có kể lại câu chuyện cảm động sau: “Trong số các cộng tác viên của tôi, có một cặp vợ chồng kia trước đây sống rất lạnh nhạt với nhau. Một hôm, cả hai đến gặp tôi. Tôi bảo:
- Tôi không hiểu tại sao ông bà có thể đem Chúa Giêsu đến cho những người khác trong khi chính bản thân ông bà không thể đem Ngài đến cho nhau? Làm sao ông bà có thể nhận ra Ngài đang ẩn mình nơi những người nghèo khổ, trong khi ông bà không biết khám phá ra Ngài trong tâm hồn của nhau?.
Thế rồi, cả hai bắt đầu cuộc tranh cãi gay gắt ngay trước mặt tôi. Họ dốc sạch bầu tâm sự và mọi tranh cãi giận hờn đã ôm ấp trong lòng từ bao năm nay... Một lát, Mẹ Têrêsa bảo họ:
- Thôi đủ rồi! Ông bà đã nói tất cả những gì cần nói với nhau. Bây giờ ông bà hãy vào Nhà thờ cầu nguyện và mỗi người hãy nói với Chúa Giêsu hiện diện trong nhà tạm những gì đã nói với nhau lúc này!
Rồi Mẹ cùng đôi vợ chồng cùng bước vào nhà thờ. Họ quỳ gối xuống gần bên nhau trước nhà tạm và thinh lặng... Một lúc sau, người chồng quay sang nhìn người vợ với tất cả sự trìu mến. Ông ôm lấy vợ và nói:
- Em là người yêu duy nhất của đời anh và là tất cả kho tàng quý giá của anh đang có...
Và từ hôm đó hai vợ chồng làm hòa cùng nhau, đồng thời trở thành những cộng tác viên đắc lực của tôi và là mẫu gương cho nhiều gia đình khác...
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa để con luôn thấy Chúa đồng hành với con trong từng giây từng phút của cuộc đời. Amen.
Ngày 24 tháng 8
THÁNH BATÔLÔMÊÔ, TÔNG ĐỒ
(Ga 1,45-51)
Trong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Natanien, người Cana xứ Galilê được Philípphê mời đến gặp Ðức Giêsu. Và Ðức Giêsu đã khen ông: "Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng" (Ga 1,47b). Khi Natanien hỏi Ðức Giêsu làm sao Ngài biết ông, Ðức Giêsu trả lời "Tôi thấy anh ở dưới cây vả" (Ga 1,48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Natanien phải kêu lên, "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel" (Ga 1,49b). Nhưng Ðức Giêsu đã phản ứng lại, "Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!" (Ga 1,50)
Theo truyền thuyết truyền lại, thì thánh nhân là người có tầm vóc trung bình với mái tóc đen, nước da trắng trẻo, và đôi mắt tròn, lớn ẩn sâu trong hai con mắt hơi rộng, ngày ngày Ngài đọc kinh có tới trăm lần. Giọng nói của Ngài sang sảng và có sức thu hút lạ thường. Vẻ mặt Ngài luôn luôn vui tươi, Ngài cũng được ơn nói nhiều thứ tiếng và biết mọi sự tương lai. Với những ơn đặc biệt ấy, danh tiếng Ngài chả mấy chốc lừng lẫy như sóng cồn, khiến bao nhiêu con bệnh cũng như bao nhiêu người mắc cơn nguy biến đều tìm đến xin thánh nhân cứu chữa. Bấy giờ vua Pôlêmon (Polemon) có một công chúa bị quỷ ám. Vua đã nhờ các quỷ khác trừ nhưng vô hiệu quả, nghe nói thánh nhân có uy quyền trừ được tà ma, đầu tiên nhà vua không tin, nhưng phần tin công chúa, phần muốn thử tài của Ngài nên vua cho mời thánh nhân tới. Sau khi cầu nguyện sốt sắng, thánh nhân đã trừ quỷ và chữa cho công Chúa khỏi. Trước phép lạ nhãn tiền này, nhà vua cho người mang vàng bạc hậu tạ thánh nhân, nhưng Ngài một mực khước từ. Một đêm kia vua Polêmon chiêm bao thấy thánh nhân hiện đến và nói với nhà vua rằng: “Tôi đến đây không phải để gầy dựng gia nghiệp, thu tích vàng bạc nhưng để cứu rỗi các linh hồn, giải phóng người ta khỏi ách lầm than của ma quỷ. Đồng thời vua cũng được thánh nhân giảng cho biết qua về Chúa Giêsu và hứa sẽ chỉ tên vạch mặt quỷ Atarôt, bằng cách bắt nó tuyên xưng Chúa Kitô rồi mới trục xuất nó ra một lần nữa. Sự việc xẩy ra y như vua đã chiêm bao: một ngày kia trước mặt vua và cả triều đình thánh nhân công khai bắt tên quỷ Atarôt thú nhận nó là tên lừa bịp dân chúng và là tên phản tặc đối với Thiên Chúa. Đồng thời nó tuyên xưng thánh nhân là tông đồ Thiên Chúa sai đến để truyền bá Phúc âm. Thánh nhân ra lệnh cho nó phải cút khỏi vùng này và cấm từ nay không được lai vãng đến hại dân. Tên quỷ vâng lệnh và “cúp đuôi” biến mất. Bấy giờ dân chúng hết lời ca tụng thánh nhân và đập phá tượng quỷ đang thờ. Chứng kiến phép lạ nhãn tiền này, cả triều vua xin học đạo và chịu phép rửa tội.
Ma quỷ căm giận vì thất bại nên tìm cách trả thù. Chúng xúi giục một số viên chức nổi lên chống đối lại thánh nhân và coi Ngài như kẻ thù phá hoại chùa miếu đền thờ, phá rối an ninh. Rồi tiếng đồn thổi vu cáo thánh nhân mỗi ngày một lan rộng.
Lần kia một số công chức âm mưu đến vu cáo với vua Atigiê (Attiges) em vua Polemê (Polemes) rằng: thánh nhân đã phá hủy đền chùa của họ. Tức giận, Atigiê truyền đưa thánh nhân tới. Trước sân rồng lộng lẫy, thánh nhân đàng hoàng tiến lên tâu trình mọi việc với nhà vua. Đang khi nhà vua sỉ nhục thánh nhân thì tất cả các tượng bụt trong đền vua tự nhiên đổ tan tành, nhà vua nổi nóng hạ lệnh lột da rồi thiêu sinh thánh nhân. Nhưng Chúa toàn năng đã tỏ uy quyền của Ngài để mở mắt cho những kẻ mù tối: qua hai cuộc hành hình thánh nhân vẫn còn sống. Sau cùng thánh nhân bị trảm quyết, ngày 24 tháng 8 năm 52.
Nghe tin thánh nhân bị trảm quyết, cả triều vua Pôlômon vội vã sang xin xác thánh Ngài và an táng rất trọng thế. Để thưởng công vua Pôlômon, sau 30 ngày các vị tông đồ đã truy phong nhà vua lên chức giám mục. Còn vua Atigiê và những kẻ đã nhúng tay hành quyết thánh nhân đều bị bệnh quỷ ám và chết một cách khốn nạn.
Sau khi an táng xác thánh nhân, dân chúng tấp nập đến kính viếng và được hưởng nhiều phép lạ. Nhiều người lương dân thấy vậy đâm ghen tương. Họ bí mật quật mộ và quẳng quan tài Ngài xuống biển. Nhưng Chúa quan phòng đã làm phép lạ khiến tấm quan tài bằng chì của thánh nhân nổi lềnh đềnh trên mặt biển và được sóng biển đưa tới hòn đảo Lipari gần Xixin (Cicile). Tín hữu miền này rước quan tài thánh nhân về miền Bênêven và xây cất đền thờ kính Ngài. Với những phép lạ thời danh Ngài làm, chẳng bao lâu nơi đây trở thành đất hành hương danh tiếng. Năm 983 dưới thời Đức giáo hoàng Grêgôriô V, xác thánh Ngài được di chuyển vể La-mã nằm bên cạnh các Tông đồ khác.
Sổ Tử Ðạo Rôma viết rằng Thánh Batôlômêô đã rao giảng ở Ấn và Armenia, là nơi ngài bị lột da và bị chém đầu bởi vua Astyages.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Mừng Sinh Nhật Mẹ
CÁO PHÓ: ÔNG GB NGUYỄN HỮU XUÂN ĐÃ AN NGHỉ TRONG CHÚA
Tin vui cho toàn Giáo xứ
Ngày 08/09: Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria
Thứ Bảy tuần 22 Thường niên
Thứ Ba tuần 23 Thường niên
Ngày 03/09: Thánh Grêgôriô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh
04-08-Thánh Rosa ở Viterbo
Chân Phước Claudio Granzotto 06/09
Ngày 05/09: Thánh Têrêsa Calcutta, nữ tu