Thánh Maximilianô Maria Kolbê, linh mục, tử đạo

Thứ năm - 13/08/2026 05:02 Tác giả: Ban Biên Tập
Ngày 14/08: Thánh Maximilianô Maria Kolbê, linh mục, tử đạo
Thánh Maximilianô Maria Kolbê, linh mục, tử đạo


Ngày 14/08: Thánh Maximilianô Maria Kolbê, linh mục, tử đạo

Ngày 14 tháng 8
THÁNH MAXIMILIANÔ MARIA KOLBE
(1894-1941)

1. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Cha Maximilianô Kolbe sinh tại Zdusnka Wola, nước Balan, ngày 8-1-1894. Năm 1907, nhập học tại chủng viện dòng Phanxicô, được gởi qua học ở Roma. Ngày 28-04-1918, thụ phong linh mục. Là một tông đồ nhiệt thành về lòng sùng kính thánh mẫu Maria, Cha Kolbe đã tích cực cổ võ lòng tôn sùng ấy đặc biệt bằng báo chí (Nguyệt san “Người hiệp sĩ của Đức Mẹ Vô Nhiễm”) phát hành một lần tới một triệu số năm 1938) và bằng một trung tâm thánh mẫu. Năm 1930, cha qua Nhật và thành lập một trung tâm tương tự. Năm 1936, cha trở về Balan.

Ngày 1-9-1939, quân đội Đức của Hitler tấn công Balan, mở đầu cho cuộc thế giới chiến tranh thứ II.

Mười ngày sau, mật vụ Đức bắt giam cha Maximilianô Kolbe gần ba tháng. Được trả tự do, cha trở lại đời sống hoạt động tông đồ cho đến ngày 17-2-1941, thì bị bắt lại. Và lần này cha bị giam ở trại tập trung Auschwitz, nơi đã từng tiêu diệt 6 triệu người Do Thái và vô số những người khác trong các phòng hơi ngạt. Cha Kolbe cũng chết tại đó.

30 năm sau, ngày 17-10-1971 tại thánh đường Phêrô, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã long trọng phong cha lên hàng chân phước. Tại buổi lễ này người ta thấy có sự hiện diện của cụ Giasowniczek, người mà trước kia cha Maximilianô Kolbe đã chết thay cho.

Rồi ngày 10-10-1982 Đức Gioan Phaolô II đã phong Ngài lên bậc hiển thánh.

2. CHỨNG NHÂN ANH DŨNG

“Hôm ấy là ngày 30/7/1941, trong nhà giam số 14 tại trại tập trung Auschwitz, nơi mấy tháng trước đó, một nhóm tù nhân vừa được dẫn tới, trong đó có cha Maximilianô Kolbe, tu sĩ dòng Phanxicô Balan. Hôm ấy thiếu mất một tù nhân. Các tử tù biết rằng cứ một tù nhân đào thoát là hai mươi tù cùng trại phải nhịn ăn cho đến chết. Đêm ấy không ai trong khu nhà giam chợp mắt được. Mọi người đều sợ hãi, mặc dù nhiều lúc họ vẫn mong chờ cái chết đến để giải thoát họ.

Chết dưới làn đạn, có lẽ còn chịu được, nhưng chết đói chết khát thật là một cái chết kinh sợ nhất. Từ căn nhà hành hình, phát ra những tiếng la rú rùng rợn. Đêm ấy, cha Kolbe lo an ủi đồng bạn và giải tội cho những ai cần.

Sáng hôm sau khi điểm danh, tên cai ngục đã báo tin người ta đã không tìm lại được kẻ đào thoát. Cả trại 14 đứng im như trời trồng và hồi hộp chờ án lệnh. Viên cai ngục dừng lại trước hàng những tù nhân và tuyên bố: “Mười đứa trong tụi bay sẽ chết thay nó. Lần sau sẽ là 20 đứa”. Tuyên bố xong hắn ta chậm rãi đi ngang qua hàng đầu, có vẻ suy nghĩ, rồi nói : “Tên này... tên này... tên này. Tất cả 10 người. 10 người bị tử hình”. Lúc đó một trong số những người ấy kêu lên: “Ôi vợ tôi, các con tôi!”. Những người còn đứng trong hàng ngũ thở ra nhẹ nhõm.

Nhưng rồi một chuyện bất ngờ xảy ra: Có một người tù không thuộc nhóm những người bị chỉ định, mạnh dạn bước ra khỏi đám người đang xếp hàng im lặng trong sợ hãi, nhìn thẳng vào người cai ngục. Tên này kinh ngạc lùi lại một chút rồi hô to: “Đứng lại!”

Cha Maximilianô Kolbe dừng lại trước mặt y. Thế rồi một cuộc đối thoại chưa từng nghe đã diễn ra. Một cuộc đối thoại điên khùng mà những người sống sót đã kể lại thật chính xác:

- Xin ông cho phép tôi được chết thay cho một trong những người bị lên án này!

Viên cai tù kinh ngạc nhìn cha.

- Anh là ai ?

- Là một linh mục công giáo.

- Anh muốn chết thế cho ai?

- Người này. Cha Kolbe chỉ vào người vừa mới la khóc.

- Tại sao?

- Bởi vì đời tôi không còn giúp ích gì mấy. Trong khi ông này còn có gia đình.

Viên cai trại suy nghĩ, rồi đưa tay ra hiệu đồng ý. Cha Kolbe nhập bọn với đám tử tội.

Một phút im lặng. Không ai hiểu rõ sự việc vừa xảy ra.

Các tù nhân bị lột hết quần áo, nhốt vào một căn hầm. Kể từ giây phút đó, người tù không còn gì để ăn và điều kinh khủng là không có gì để uống gì nữa.

Trước kia căn nhà hầm này luôn vang lên những tiếng kêu la thảm thiết. Thật là một địa ngục nhỏ. Nhưng lần này có cái gì đã thay đổi. Mấy người lính Đức quốc xã rất đỗi ngạc nhiên. Đám tử tù cầu nguyện và ca hát. Vẫn có tiếng rên rỉ, nhưng không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng nữa.

Ngày thứ 12, tức ngày 14-08-1941 cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân mình tàn rũ. Cha ngồi giữa đất, đầu tựa vào tường, thân mình ngay thẳng và khuôn mặt rạng rỡ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đem đi. Như bao nhiêu người khác, xác cha bị hoả thiêu trong lò và nắm tro tàn bị ném tung trong gió bốn phương.

3. THAY CHO LỜI KẾT

Đây là lời của Đức thánh Cha Phaolô VI

“Lịch sử sẽ không thể quên được trang sử ghê tởm này (của thời Đức quốc xã) nhưng giữa sự kinh hãi, người ta vẫn không thể không nhận ra những tia sáng tố giác bóng tối và đồng thời lướt thắng bóng tối. Một trong những tia sáng ấy, và có lẽ là tia sáng rực rỡ hơn hết, được ban cho chúng ta trong khuôn mặt tiều tụy và bình thản của cha M. Kolbe, vị anh hùng luôn bám chắc vào một niềm hy vọng nghịch lý nhưng có suy nghĩ. Tên tuổi Ngài mãi mãi lớn lao và sẽ nhắc nhở cho ta thấy rằng giữa những con người khốn khổ, vẫn có thể tồn tại những năng lực và giá trị luân lý phong phú biết bao !” (Bài giảng của Đức Phaolô VI…)

Và đây là những lời của Đức Hồng Y Wojtyla sau này là Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tại phòng họp báo toà thánh Vatican ngày 14-10-1971

“Chân phước Maximilianô Kolbe không biết đến hận thù là gì. Trong nhà tù Pawiak, ở Vacsava, trong trại tập trung Auschwitz Ngài nhìn những người hành hình cũng như những kẻ bị hành hình với cùng một cái nhìn trong sáng đến nỗi những kẻ tàn bạo nhất cũng phải quay mặt đi : “Đừng nhìn bọn tao như thế”. Con người mang bản số 16670 ấy đã dành được một cuộc chiến thắng khó khăn nhất: ấy là cuộc chiến của tình yêu biết xá tội, biết thứ tha. Ngài đã đi vào trong cái vòng luẩn quẩn hiểm ác của hận thù với một cõi lòng nóng bỏng tình yêu và lập tức cái “ngón trù ếm” quỉ quái của nó bị giải độc. Tình yêu đã mạnh hơn sự chết.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý
 

14 Tháng Tám
Thánh Maximilian Mary Kolbe
(1894-1941)

 

Không hiểu tương lai của con sẽ ra sao!" Ðó là câu mà nhiều cha mẹ từng than thở với đứa con hay đau yếu. Nhưng với Thánh Maximilian Mary Kolbe thì khác. Ngay từ nhỏ, khi được cha mẹ hỏi, ngài trả lời, "Con tha thiết cầu xin với Ðức Mẹ để biết tương lai của con. Và Ðức Mẹ đã hiện ra, tay cầm hai triều thiên, một mầu trắng, một mầu đỏ. Ðức Mẹ hỏi con có muốn nhận các triều thiên ấy không -- mầu trắng là sự thanh khiết, mầu đỏ là sự tử đạo. Con trả lời, 'Con muốn cả hai.' Ðức Mẹ mỉm cười và biến mất." Sau biến cố đó, cuộc đời của Maximilian Kolbe không còn giống như trước.

Ngài gia nhập tiểu chủng viện của các cha Phanxicô ở Lwow, Ba Lan, gần nơi sinh trưởng, và lúc ấy mới 16 tuổi. Mặc dù sau này ngài đậu bằng tiến sĩ về triết học và thần học, nhưng ngài rất yêu thích khoa học, có lần ngài phác họa cả một phi thuyền không gian.

Sau khi thụ phong linh mục lúc 24 tuổi, ngài nhận thấy sự thờ ơ tôn giáo là căn bệnh nguy hiểm vào thời ấy. Nhiệm vụ của ngài là phải chiến đấu chống với căn bệnh này. Ngài sáng lập tổ chức Ðạo Binh của Ðức Vô Nhiễm mà mục đích là chống lại sự dữ qua đời sống tốt lành, siêng năng cầu nguyện, làm việc và chịu đau khổ. Ngài phát hành tờ Hiệp Sĩ của Ðức Vô Nhiễm, được đặt dưới sự phù hộ của Ðức Maria để rao giảng Phúc Âm cho mọi dân tộc. Ðể thực hiện công việc ấn loát, ngài thành lập "Thành Phố của Ðức Vô Nhiễm" - Niepolalanow -- mà trong đó có đến 700 tu sĩ Phanxicô làm việc. Sau này, ngài thành lập một thành phố khác ở Nagasaki, Nhật Bản. Cả tổ chức Ðạo Binh và tờ nguyệt san có đến 1 triệu hội viên cũng như độc giả. Tình yêu Thiên Chúa của ngài được thể hiện hằng ngày qua sự sùng kính Ðức Maria.

Năm 1939, Ðức Quốc Xã xâm lăng Ba Lan. Thành phố Niepolalanow bị dội bom. Cha Kolbe và các tu sĩ Phanxicô bị bắt, nhưng sau đó chưa đầy ba tháng, tất cả được trả tự do, vào đúng ngày lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Vào năm 1941, ngài bị bắt một lần nữa. Mục đích của Ðức Quốc Xã là thanh lọc những phần tử tuyển chọn, là các vị lãnh đạo. Cuộc đời Cha Kolbe kết thúc trong trại tập trung Auschwitz.

Vào ngày 31 tháng Bảy 1941, có một tù nhân trốn thoát. Sĩ quan chỉ huy trại bắt 10 người khác phải chết thay. Hắn khoái trá bước dọc theo dãy tù nhân đang run sợ chờ đợi sự chỉ định của hắn như tiếng gọi của tử thần. "Tên này." "Tên kia." Có những tiếng thở phào thoát nạn. Cũng có tiếng nức nở tuyệt vọng.

Trong khi 10 người xấu số lê bước về hầm bỏ đói, bỗng dưng tù nhân số 16670 bước ra khỏi hàng.

"Tôi muốn thế chỗ cho ông kia. Ông ấy có gia đình, vợ con."

Cả một sự im lặng nặng nề. Tên chỉ huy sững sờ, đây là lần đầu tiên trong đời hắn phải đối diện với một sự can đảm khôn cùng.

"Mày là ai?"

"Là một linh mục." Không cần xưng danh tính cũng không cần nêu công trạng.

Và Cha Kolbe được thế chỗ cho Trung Sĩ Francis Gajowniczek.

Trong "hầm tử thần" tất cả bị lột trần truồng và bị bỏ đói để chết dần mòn trong tăm tối. Nhưng thay vì tiếng rên xiết, người ta nghe các tù nhân hát thánh ca. Vào ngày lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15 tháng Tám) chỉ còn bốn tù nhân sống sót. Tên cai tù chấm dứt cuộc đời Cha Kolbe bằng một mũi thuốc độc chích vào cánh tay. Sau đó thân xác của ngài bị thiêu đốt cũng như bao người khác.

Cha được Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong thánh năm 1981.

Lời Bàn

Cái chết của Cha Kolbe không phải là một hành động anh hùng bất chợt, bốc đồng vào giây phút cuối. Cả cuộc đời ngài đã chuẩn bị cho giây phút đó. Sự thánh thiện của ngài được thể hiện qua niềm khát khao muốn hoán cải cả thế giới mà động lực là tình yêu của ngài dành cho Ðức Mẹ Vô Nhiễm.

Lời Trích

"Hãy can đảm lên các con. Các con không thấy chúng ta đang trên đường thi hành sứ vụ hay sao? Chúng ta phải trả một giá quá rẻ. Thật may mắn biết chừng nào! Ðiều bây giờ chúng ta phải làm là chú tâm cầu nguyện để chiếm đoạt càng nhiều linh hồn càng tốt. Và sau đó, chúng ta sẽ thưa với Ðức Trinh Nữ là chúng ta rất mãn nguyện để ngài muốn làm gì với chúng ta tùy ý" (Lời Thánh Maximilian Mary Kolbe trong lần bị bắt đầu tiên).
...............................

 

NGÀY 14 THÁNG 8: THÁNH MAXIMILIANÔ KOLBÊ, LINH MỤC DÒNG PHANXICÔ VIỆN TU, TỬ ĐẠO

WHĐ (13/8/2026) – "Ave Maria" – đó là những lời cuối cùng của Cha Maximilianô Kolbê trước khi qua đời. Từ một tu sĩ Phanxicô nhiệt thành với lòng sùng kính Đức Mẹ, ngài đã trở nên chứng nhân trọn vẹn nhất của tình yêu hiến mạng vì tha nhân. Khi Đức Quốc xã xâm chiếm Ba Lan, ngài bị đưa vào trại tập trung Auschwitz, ngài qua đời trong hầm giam sau khi tình nguyện chết thay cho một người cha có gia đình.

 

Ngày 14 tháng 8

THÁNH MAXIMILIANÔ KOLBÊ, LINH MỤC DÒNG PHANXICÔ VIỆN TU, TỬ ĐẠO

Những năm đầu đời

Maximilianô Kolbê sinh ngày 07 tháng 01 năm 1894 tại Zdunska-Wola, một vùng đất Ba Lan khi ấy nằm dưới quyền kiểm soát của Nga. Cha mẹ ngài đều là những công nhân dệt vải và là những Kitô hữu đạo đức. Khi chịu phép Rửa tội, ngài được cha mẹ đặt tên là Raimunđô. Ngài theo học tại trường của các tu sĩ Phanxicô ở Lwów.[1] Năm 1910, ngài gia nhập Dòng Anh em Hèn mọn Viện tu và nhận tên dòng là Maximilianô. Ban đầu, ngài được gửi đi đến Krakow (Cracôvia) rồi sau đó đến Rôma, nơi ngài ở lại sáu năm để theo học tiến sĩ triết học tại Đại học Giáo hoàng Grêgôriana và thần học tại Học viện Seraphicum. Ngài được thụ phong linh mục ngày 28 tháng 4 năm 1918.

Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm

Tại Rôma, một hôm đang chơi bóng đá ở vùng ngoại ô, ngài bắt đầu ho ra máu. Căn bệnh lao phổi này đã theo ngài suốt cả cuộc đời. Với sự cho phép của các bề trên, ngài thành lập hội "Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm”, một hiệp hội đạo đức nhằm đưa mọi người trở về với Thiên Chúa qua trung gian của Đức Maria. Trở về Ba Lan, tại Krakow, dù đã xuất sắc hoàn tất chương trình tiến sĩ, ngài lại không thể giảng dạy vì sức khỏe yếu không thể nói chuyện lâu được. Vẫn với sự cho phép của các bề trên, ngài dấn thân cổ võ cho "Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm", thu hút được rất nhiều thành viên gia nhập, từ các tu sĩ trong Dòng, các giáo sư và sinh viên đại học, cho đến cả các viên chức và nông dân.

Sự thành công của tờ báo "Hiệp sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm"

Vào lễ Giáng Sinh năm 1921, cha Kolbê thành lập tại Krakow một tờ báo nhỏ chỉ có vài trang, mang tên “Hiệp sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm”, nhằm phổ biến tinh thần của “Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm”. Sau đó, ngài được chuyển đến Grodno, cách Krakow sáu trăm cây số, tại đây ngài lập một xưởng in nhỏ để in báo, với những thiết bị cũ kỹ; sáng kiến này đã giúp ngài thu hút được nhiều bạn trẻ, những người khao khát chia sẻ lối sống theo tinh thần Phanxicô, dưới sự soi dẫn của Đức Maria. Tờ báo ngày càng được phổ biến rộng rãi. Tại Warszawa (Vacsava), nhờ bá tước Lubecki tặng một khu đất, ngài thành lập “Niepokalanow”, một trung tâm được gọi là “Thành đô của Đức Maria”. Trung tâm này phát triển nhanh chóng, từ những túp lều đầu tiên dần dần trở thành những tòa nhà kiên cố, chiếc máy in cũ được thay thế bằng những kỹ thuật sắp chữ và in ấn hiện đại. Trong thời gian ngắn, tờ "Hiệp sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm" đã đạt số lượng phát hành lên đến hàng triệu bản, và bảy ấn phẩm định kỳ khác cũng ra đời.

“Thành đô của Đức Maria” tại Ba Lan và Nhật Bản

Với lòng nhiệt thành muốn mở rộng phong trào tôn sùng Đức Mẹ vượt ra ngoài biên giới Ba Lan, Cha Kolbê lên đường sang Nhật Bản và ngài thành lập trung tâm "Thành đô của Đức Maria " tại Nagasaki. Chính ở đây, sau vụ nổ quả bom nguyên tử đầu tiên, nơi này đã trở thành chỗ nương náu cho những trẻ mồ côi ở Nagasaki. Ngài cộng tác với cả người Do Thái, người Tin Lành và các Phật tử, với xác tín rằng Thiên Chúa gieo rắc những hạt giống chân lý trong mỗi tôn giáo. Ngài cũng mở một cơ sở tại Ernakulam, trên bờ biển phía tây Ấn Độ. Sau đó, để chữa bệnh lao, ngài trở về Ba Lan và sống tại Niepokalanow.

Niepokalanow, nơi nương náu cho những người tị nạn và người Do Thái

Sau khi Ba Lan bị xâm chiếm, ngày 01 tháng 9 năm 1939, quân Đức Quốc xã ra lệnh giải thể Niepokalanow. Với các tu sĩ buộc phải rời khỏi trung tâm, cha Kolbê chỉ nhắn nhủ một điều duy nhất: "Đừng bao giờ quên tình yêu". Còn lại khoảng bốn mươi anh em, họ đã biến trung tâm nhỏ bé ấy thành nơi đón tiếp những người bị thương, người bệnh và người tị nạn. Ngày 19 tháng 9 năm 1939, quân Đức bắt giữ Cha Kolbê cùng các anh em khác, đưa họ vào một trại tập trung, rồi bất ngờ trả họ tự do vào ngày 08 tháng 12. Trở về Niepokalanow, họ tiếp tục công việc trợ giúp khoảng 3.500 người tị nạn, trong đó có 1.500 người Do Thái. Tuy nhiên, vài tháng sau, những người tị nạn bị trục xuất hoặc bị bắt giữ, và chính cha Kolbê, sau khi từ chối nhập quốc tịch Đức để được sống an toàn, đã bị bắt giam ngày 17 tháng 02 năm 1941 cùng với bốn anh em khác. Sau khi chịu sự ngược đãi từ các cai ngục, ngài bị buộc phải mặc thường phục, vì tu phục Phanxicô "gây khó chịu" cho quân Đức Quốc xã. Ngày 28 tháng 5, ngài bị chuyển đến trại tập trung Auschwitz. Ngài mang số tù 16670 và bị giam cùng với những người Do Thái, vì là linh mục, ngài bị đưa đi làm những công việc khổ sai nặng nhọc nhất như khiêng xác người vào lò thiêu.

Cuộc sống tại Auschwitz và chứng từ trong hầm giam tử tù

Tư cách linh mục nơi ngài đã trở thành nguồn khích lệ cho các bạn tù khác. Một nhân chứng còn nhớ lại: "Cha Kolbê như một vị hoàng thân giữa chúng tôi". Cuối tháng 7, ngài bị chuyển đến Nhà giam số 14, nơi các tù nhân bị đưa đi làm việc trong các doanh trại. Một người trong số họ đã trốn thoát. Vì thế, quân Đức Quốc xã chọn mười tù nhân để đưa vào hầm giam chờ chết. Cha Kolbê đã xin thế chỗ cho một trong số những người "bị chọn" ấy, một người cha của gia đình cũng là bạn tù của ngài. Nỗi tuyệt vọng của những tử tù đã biến thành lời cầu nguyện chung do chính cha Kolbê hướng dẫn. Sau 14 ngày, chỉ còn bốn người sống sót, trong đó có cha Maximilianô. Bấy giờ, lính canh quyết định rút ngắn cơn hấp hối của họ bằng một mũi thuốc độc. Cha Kolbê đưa cánh tay ra, miệng thốt lên: "Ave Maria" – đó là những lời cuối cùng của ngài. Hôm ấy là ngày 14 tháng 8 năm 1941.

Chuyển ngữ từ: vaticannews.va/fr

Chuyển ngữ: Maria Hải Châu, SSS

[1] Lwów / Lwow là thành phố khi ấy thuộc Ba Lan, ngày nay là thành phố Lviv thuộc miền tây Ukraina.

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây