Ngày 25/04: Thánh sử Marcô, tác giả sách Tin mừng

Thứ sáu - 24/04/2026 05:02 Tác giả: Ban Biên Tập
​​​​​​​Ngày 25/04: Thánh sử Marcô, tác giả sách Tin mừng
Ngày 25/04: Thánh sử Marcô, tác giả sách Tin mừng

 

Ngày 25/04: Thánh sử Marcô, tác giả sách Tin mừng

Ngày 25 tháng 4
THÁNH MARCÔ

1. LỊCH SỬ

Thánh Marcô có thể thuộc dòng tộc Arong, sinh tại Galilê. Là một trong 72 môn đệ của Chúa Giêsu. Trong công cuộc truyền giáo, ngài là đệ tử trung kiên của thánh Phêrô. Chính nhờ sự giúp đỡ và lời yêu cầu nguyện của vị thủ lãnh các tông đồ mà thánh nhân đã viết cuốn Tin Mừng thứ hai, gọi là Tin Mừng theo thánh Marcô.

Tin Mừng của ngài vắn gọn. Lời văn không chải chuốt như thánh Matthêo hoặc Luca, nhưng rất chân thành và thực tế. Ngài không giấu diếm sự chậm hiểu, kém tin của các tông đồ: "Các ông không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội" (Mc  5, 52 ); ngài cũng chẳng che đậy tham vọng của các ông: "Khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả " (Mc 9. 34 ).

Theo nhiều nguồn tài liệu, mẹ ngài là bà Maria, một bà góa giàu có ở  Giêrusalem, có nhà rộng rãi, có thể làm nơi hội họp của các tín hữu được và thánh Phêrô cũng thường trú ngụ ở nơi này.

Thánh nhân theo người bà con là Barnabê và tông đồ Phaolô trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ nhất. Nhưng khi đến Pergê thì ngài trở về Giêrusalem, có lẽ vì lý do sức khỏe. Sau đó, ngài đã tháp tùng theo thánh Phêrô giảng đạo ở Rôma. Ngài đã chứng kiến "khoảng ba ngàn người theo đạo " nhờ bài giảng của thánh Phêrô; ngài thấy tận mắt thánh Phêrô chữa lành người què từ khi lọt lòng mẹ" tại cửa Đền thờ; ngài cũng bị "các tư tế viên lãnh binh Đền thờ và các người thuộc nhóm Sađốc" bắt giam...

Chính thánh Phêrô đã trao cho ngài sứ mạng phúc âm hoá Alexandria. Ngài đã thành lập giáo đoàn này, và hướng dẫn mọi người sống hoàn thiện đạo đức không kém giáo đoàn Giêrusalem. Toàn thể giáo đoàn đều hiệp nhất trong một niềm tin, cậy, mến, chuyên cần phụng sự Chúa và phục vụ nhau.

Chính vì thế mà ma quỷ ganh tị. Chúng xúi dục những người ngoại giáo quá khích chống đối bách hại thánh nhân. Họ bắt ngài; cột cổ kéo lôi trên sỏi đá làm cho da thịt ngài bị xé rách nát ra. Máu chảy đầm đìa. Rồi đem bỏ vào ngục. Sáng hôm sau, họ lại dắt ngài ra và hành hạ y như hôm trước. Đau đớn quá, ngài kiệt sức dần và tắt thở..

II. GƯƠNG TÔNG ĐỒ

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Bổn phận loan báo Tin Mừng là bổn phận của mọi người. Mỗi người đều có thể là tông đồ cho Chúa trong hoàn cảnh và khả năng của mình.

June là một cô bé 5 tuổi xinh đẹp và lanh lợi. Cha là một mục sư. Mỗi khi đi đâu, Mẹ thường cho em theo.

Ngày nọ, khi hai mẹ con vào bưu điện, một ông lão thấy em liền hỏi:

- Này bé, ai cho bé mái tóc đẹp thế ?

- Chúa cho cháu đó!

Nói xong bé nhìn thẳng vào ông hỏi:

- Thế ông có được Chúa cho gì không? Có được Chúa cứu không?

Ông già kinh ngạc và xúc động trước câu hỏi đơn sơ đó. Ông thẫn thờ đáp :

- Không, bé ạ!

- Thế thì ông phải đến với Chúa ngay đi. Rồi Chúa sẽ cho ông thành một người thật đẹp đẽ !

Nói xong, bé vội chạy theo mẹ.

Ít tuần sau, ông tìm đến nhà thờ và theo đạo. Ông cho biết lời của em bé luôn ám ảnh trong đầu và ông quyết định theo Chúa. (Góp nhặt)

Một cách truyền giáo đơn sơ nhưng kết quả thật không ai ngờ!

Tại sao chúng ta phải truyền giáo? Thưa vì chúng ta đã được lãnh nhận nhưng không thì chúng ta cũng phải biết cho đi nhưng không.

Lịch sử kể lại rằng Fritz Kreisler (18751962) là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng khắp thế giới. Ông đã tạo được một cơ nghiệp đồ sộ nhờ các buổi hòa nhạc và soạn nhạc, nhưng lại hào phóng cho đi gần hết của cải. Do đó, trong một chuyến lưu diễn, ông tìm được một cây vĩ cầm thanh tú nhưng không đủ tiền mua.

Đến khi ông kiếm đủ tiền và trở lại, thì cây đàn đã được bán cho một nhà sưu tầm nhạc cụ. Kreisler tìm đến chủ mới của cây vĩ cầm để xin mua lại. Nhà sưu tầm không muốn bán vì theo ông, nó là một bảo vật quí giá. Kreisler buồn bã và sắp sửa ra về, bỗng nảy ra một ý:

Xin đàn một lần trước khi nó bị ký thác cho sự câm lặng.

Chủ nhân chấp thuận. Vị nhạc sĩ tài ba đã làm cho nhà sưu tầm thực sự xúc động vì tiếng đàn du dương của mình, đến nỗi ông ấy phải kêu lên:

- Kreisler ơi ! Tôi, tôi không có quyền giữ chiếc đàn này. Nó thuộc về ông. Ông hãy đem nó đi khắp thế giới để thiên hạ được thưởng thức âm thanh của nó.

Chúng ta cũng thế, chúng ta không có quyền giữ cho mình tất cả hồng ân Chúa đã ban tặng cho ta. Tất cả đã được đón nhận thì tất cả cũng phải được sẻ chia. (Epphata)

Thế giới hôm nay vẫn còn đầy rẫy những nạn nhân của chiến tranh, của đói nghèo, của bệnh tật, thiên tai, phân biệt chủng tộc vv đang cần những người đem đến cho họ tình thương của Chúa.

Lạy Chúa, xin cứ dùng con theo ý Chúa,

làm chân tay cho người què cụt,

làm đôi mắt cho ai đui mù,

làm lỗ tai cho người bị điếc,

làm miệng lưỡi cho người không nói được,

làm tiếng kêu cho người chịu bất công.

Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đồng lúa,

Để đem cơm cho người đói đang chờ,

Và đem nước cho người họng đang khô,

Đem thuốc thang cho người đang đau ốm,

Đem áo quần cho người đang trần trụi,

Đem mền đắp cho người rét đang run.

Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đường vắng,

Thắp đèn soi cho ai bước trong đêm,

Đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh,

Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi,

Nâng phẩm giá cho kẻ đời chà đạp,

Đem tự do cho những kiếp đọa đày.

Lạy Chúa, xin cứ gửi con vào thôn xóm,

Đem an hòa cho những ai bất thuận,

Đem thanh bình cho kẻ sống âu lo,

Đem ủi an cho người đang sầu khổ,

Đem niềm vui cho những ai bất hạnh,

Đem vận may cho người gặp rủi ro.

Lạy Chúa, xin cứ dùng con làm tất cả,

Cho mọi người được hạnh phúc an vui.

Còn phần con xin gửi hết nơi Ngài,

Là Thiên Chúa, là tình yêu, là lẽ sống.

Ngài cho con tất cả niềm hy vọng,

để tin yêu mà vui sống trọn đời.

(Một Linh mục Dòng Tên)

 

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

25/4 – THÁNH MÁCCÔ, THÁNH SỬ


 

Đa số những điều chúng ta biết về Thánh sử Máccô đều nhờ Tân ước. Ngài là người được nhắc đến trong sách Tông đồ Công vụ: “Phêrô ra khỏi tù liền đến nhà bà Maria, mẹ của ông Gioan, cũng gọi là Máccô.” (Cv 12:12)

Thánh Phaolô và Thánh Barnaba đưa Máccô theo trên đường truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một số lý do nên Máccô một mình trở lại Giêrusalem. Rõ ràng Phaolô không cho Máccô theo trên đường truyền giáo lần thứ hai dù Barnaba hết lời năn nỉ, vì Máccô đã làm phật lòng Phaolô. Sau đó, Phaolô yêu cầu Máccô đi thăm ngài trong tù và chúng ta thấy chuyện rắc rối không kéo dài lâu.

Ngắn nhất và cổ nhất trong 4 Phúc Âm, nhưng Phúc Âm theo Thánh Máccô nhấn mạnh việc Chúa Giêsu bị loài người từ chối. Có thể Phúc Âm theo Thánh Máccô được viết cho dân ngoại trở lại – sau cái chết của Thánh Phêrô và Phaolô khoảng những năm 60 và 70. Phúc Âm theo Thánh Máccô là cách biểu lộ tiệm tiến về một vụ án: Đấng Mêsia bị đóng đinh.

Thánh Phêrô gọi ngài là “con.” Thánh Phêrô chỉ là một trong các nguồn Phúc Âm, các nguồn khác là Giáo Hội ở Giêrusalem (gốc Do Thái) và Giáo Hội ở Antiôkia (đa số là dân ngoại).

Cũng như Thánh sử Luca, Thánh sử Máccô không thuộc nhóm 12 tông đồ. Chúng ta không thể chắc chắn ngài có đích thân gặp Chúa Giêsu hay không, nhưng một số học giả cho rằng ngài nói về chính mình khi diễn tả việc bắt Chúa Giêsu ở Gết-sê-ma-ni: “Trong khi đó có một cậu thanh niên đi theo Người, mình khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh. Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng.” (Mc 14:51-52)

Thánh Máccô được bổ nhiệm làm giám mục tiên khởi của Alexandria, Ai Cập. Thành Venice, nổi tiếng về bánh Piazza hiệu San Marco (Thánh Máccô) đã chọn Thánh Máccô làm thánh bổn mạng, tại thành này có một đại thánh đường có hài cốt của ngài.

Sư tử có cánh là biểu tượng của Thánh Máccô. Hình ảnh sư tử rút ra từ các diễn tả của Thánh Máccô về thánh Gioan Tẩy giả là “tiếng kêu trong hoang địa” (Mc 1:3) được so sánh với con sư tử đang gầm. Đôi cánh có từ thị kiến của Êdêkien về 4 sinh vật có cánh. (sách Edêkien, chương 1)


25 /4

Thánh Máccô

  Những gì chúng ta biết về Thánh Máccô thì trực tiếp từ Kinh Thánh Tân Ước. Ngài thường được coi là nhân vật Máccô trong Tông Ðồ Công Vụ 12:12 (Khi Phêrô thoát khỏi ngục và đến nhà mẹ của Máccô).

  Phaolô và Barnabas muốn đem theo Máccô trong chuyến truyền giáo đầu tiên, nhưng vì một vài lý do nào đó, Máccô đã ở lại Giêrusalem một mình. Trong cuộc hành trình thứ hai, Phaolô lại từ chối không muốn đem theo Máccô, bất kể sự nài nỉ của Barnabas, điều đó chứng tỏ Máccô đã làm phật lòng Phaolô. Sau này, Phaolô yêu cầu Máccô đến thăm ngài khi ở trong ngục, điều đó cho thấy sự bất hòa giữa hai người không còn nữa.

  Là phúc âm đầu tiên và ngắn nhất trong bốn Phúc Âm, Máccô nhấn mạnh đến việc Ðức Giêsu bị loài người tẩy chay trong khi chính Người là Thiên Chúa. Phúc Âm Thánh Máccô có lẽ được viết cho Dân Ngoại tòng giáo ở Rôma -- sau cái chết của Thánh Phêrô và Phaolô khoảng giữa thập niên 60 và 70.

  Cũng như các thánh sử khác, Máccô không phải là một trong 12 tông đồ. Chúng ta không rõ ngài có biết Ðức Kitô một cách cá biệt hay không. Một số sử gia cho rằng vị thánh sử này đã nói đến chính ngài trong đoạn Ðức Kitô bị bắt ở Giệtsimani: "Bấy giờ một người trẻ đi theo Người chỉ khoác vỏn vẹn một tấm vải gai. Họ túm lấy anh, nhưng anh tuột tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng" (Máccô 14:51-52).

  Nhiều người khác cho rằng Máccô là giám mục đầu tiên của Alexandria, Ai Cập. Thành phố Venice, nổi tiếng với quảng trường San Marco, cho rằng Thánh Máccô là quan thầy của thành phố này; một vương cung thánh đường vĩ đại ở đây được coi là nơi chôn cất thánh nhân.

  Dấu hiệu của Thánh Máccô là sư tử có cánh, do bởi đoạn Máccô diễn tả Gioan Tẩy Giả như một "tiếng kêu trong hoang địa" (Máccô 1:3), mà các nghệ nhân so sánh tiếng kêu ấy như tiếng sư tử gầm. Ðôi cánh của sư tử là vì người ta dùng thị kiến của Êgiêkien về bốn con vật có cánh mà áp dụng cho các thánh sử.


    Lời Bàn

  Cuộc đời Thánh Máccô đã hoàn tất những gì mà mọi Kitô Hữu được mời gọi để thi hành: rao truyền Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Ðặc biệt, phương cách của Thánh Máccô là qua sự viết văn. Những người khác có thể loan truyền Tin Mừng qua âm nhạc, nghệ thuật sân khấu, thi văn hay giáo dục con em ngay trong gia đình.


    Lời Trích

  Hầu hết những gì Thánh Máccô viết đều có đề cập đến trong các Phúc Âm khác -- chỉ trừ bốn đoạn. Sau đây là một đoạn: "... Chuyện nước trời cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Ðêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Ðất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa" (Máccô 4:26-29).

 

 

Ngày 25 tháng 4

NGÀY 25 THÁNG 4: THÁNH MARCÔ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG
 

Thánh Marcô, tác giả sách Tin mừng, sinh ra trong một gia đình Do Thái khá giả. Những gì được biết về ngài chủ yếu dựa trên sách Công vụ Tông đồ và một số thư của hai Thánh Phêrô và Phaolô. Ngài không thuộc nhóm môn đệ trực tiếp của Chúa, mặc dù có tác giả đồng hóa ngài với cậu thanh niên con của một bà góa tên Maria, cậu thanh niên này đã quấn tấm vải theo Chúa Giêsu sau khi Người bị bắt trong vườn Gêthsêmani. Thực tế, Marcô đã cộng tác với Thánh Phaolô, vị tông đồ đã được biết đến tại Giêrusalem. Ngài cùng Phaolô đi đến đảo Syp rồi sang Rôma. Vào năm 66, từ trong ngục tù tại Rôma, Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Anh hãy đem anh Marcô đi với anh, vì anh ấy rất hữu ích cho công việc phục vụ của tôi” (2 Tm 4,11).

Thánh Marcô tại Rôma và những hành trình khác

Không rõ Thánh Marcô có kịp đến Rôma để chứng kiến cuộc tử đạo của Thánh Phaolô hay không, nhưng chắc chắn rằng tại thủ đô của Đế quốc, ngài đã cộng tác với Thánh Phêrô. Vương cung thánh đường Thánh Marcô ở Rôma, ngay trung tâm khu phố cổ, là một chứng tích cho sự hiện diện của ngài, vì người ta nói rằng nơi đây được xây trên nền ngôi nhà mà thánh sử đã từng sống. Thánh Phêrô nhiều lần nhắc đến tên Marcô. Trong thư thứ nhất, Thánh Phêrô viết: “Hội thánh ở Babylon (tức Rôma), cũng được chọn như anh em, và Marcô, con tôi, gửi lời chào anh em.” (1 Pr 5,13).

Hoặc một lần nữa, trong sách Công vụ Tông đồ, sau khi được giải thoát cách kỳ lạ khỏi ngục tù, Thánh Phêrô đã đi đến “nhà bà Maria, mẹ của Gioan, cũng gọi là Marcô, ở đó có khá đông người đang tụ họp và cầu nguyện” (Cv 12,12).

Sau cái chết của vị Thủ lãnh các Tông đồ, dấu vết của Marcô trở nên mờ nhạt. Một truyền thống cổ xưa cho rằng ngài đã rao giảng Tin mừng tại Ai Cập và là người sáng lập Giáo đoàn Alexandria. Một truyền thống khác kể rằng trước khi trở về Ai Cập, ngài đã đến Aquileia để loan báo Tin mừng tại miền đông bắc của Đế quốc. Tại đây, ngài đã đưa ông Ermagore trở lại đạo, người sau đó trở thành giám mục tiên khởi của thành phố. Rời Aquileia, có truyền thuyết kể rằng vì gặp bão, ngài đã cập vào các đảo Realtine, vùng đất sơ khai của thành Venise sau này. Trong giấc ngủ, ngài thấy một thiên thần hứa với ngài rằng tại vùng đất này, ngài sẽ yên nghỉ chờ ngày sau hết.

Chứng tá tối hậu của Thánh Marcô

Thánh Marcô có lẽ đã qua đời vào khoảng giữa năm 68 và 72, có thể ngài tử đạo tại Alexandria, Ai Cập. Theo bản “Công vụ Thánh Marcô” thế kỷ IV thuật lại, vào ngày 24 tháng 4, ngài bị những người ngoại giáo buộc dây thừng vào cổ và kéo lê qua các đường phố Alexandria. Bị tống vào ngục, ngài được một thiên thần an ủi, nhưng ngày hôm sau, ngài lại phải chịu cùng một cực hình khủng khiếp và đã trút hơi thở cuối cùng. Thi hài ngài bị dự định đem thiêu, nhưng được các tín hữu giải cứu và an táng trong một hang đá. Đến thế kỷ V, thi hài được chuyển về một nhà thờ.

Theo một truyền thuyết năm 828, hai thương nhân thành Venise đã đưa thi hài của ngài về thành này giữa bối cảnh bị đe dọa bởi người Ả Rập, và ngày nay, thánh tích của ngài được tôn kính tại Vương cung thánh đường mang tên ngài. Một số thánh tích khác cũng được lưu giữ tại Cairo, Ai Cập, trong nhà thờ chính tòa Thánh Marcô, nơi đặt tòa của Đức Thượng phụ Twadros II thuộc Giáo hội Chính Thống Coptic.

Tin mừng “cụ thể” của Thánh Marcô

Thánh Marcô thường được gọi là “người ghi chép của Thánh Phêrô”. Tin mừng của ngài được biên soạn vào khoảng các năm 50 - 60. Theo truyền thống, ngài đã ghi lại lời giảng và giáo huấn của Thánh Phêrô, đặc biệt dành cho các Kitô hữu tiên khởi tại Rôma, mà không thêm thắt hay hệ thống hóa theo một lối trình bày riêng. Chính vì thế, Tin mừng Marcô mang một nét sinh động và chân thực như một bản tường thuật bình dân. Ngôn ngữ của ngài là tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất thời bấy giờ. Mục đích của các trình thuật là làm nổi bật quyền năng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, được biểu lộ qua nhiều phép lạ Người thực hiện. Những lời trong Tin mừng Marcô: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” đã được Đức Thánh cha Phanxicô giải thích như một lời diễn tả rõ ràng điều Chúa Giêsu mong đợi nơi các môn đệ của Người.

Thánh Marcô, bổn mạng thành Venise

Từ năm 1071, Thánh Marcô được chọn làm đấng bảo trợ của Vương cung thánh đường và là bổn mạng chính của thành Venise. Thành phố này vẫn gắn bó mật thiết với ngài. Biểu tượng của Thánh Marcô là con sư tử có cánh ôm cuốn sách ghi dòng chữ: “Pax tibi Marce Evangelista meus” (Bình an cho con, hỡi Marcô, tác giả Tin mừng của Ta) đã trở thành biểu tượng của thành phố, được đặt ở nhiều nơi và hiện diện khắp những vùng đất mà Cộng hòa Venise từng cai quản.

Thánh Marcô còn là bổn mạng của các công chứng viên, các nhà văn, và thợ làm kính. Ngài được tôn kính trong nhiều Giáo hội Kitô giáo, không chỉ trong Giáo hội Công giáo, mà còn trong Giáo hội Chính Thống và Giáo hội Coptic, nơi xem ngài như vị Thượng phụ của mình.

Maria Hải Châu, SSS

Chuyển ngữ từvaticannews.va/fr

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây