Cuộc đời 76 năm của Thánh Isiđôrô là thời gian xung đột và phát triển đối với Giáo Hội tại Tây Ban Nha. Người Visigoth đã xâm lăng suốt 150 năm, họ đã lập thủ đô ngay trước khi thánh nhân sinh ra. Họ là những người theo tà thuyết Arian. [*] Do đó, Tây Ban Nha bị chia đôi: Một bên là những người theo Công giáo La Mã chiến đấu chống lại bên kia là những người Gô-tích theo tà thuyết Arian (Arian Goths).
Isiđôrô đã thống nhất Tây Ban Nha, làm cho nước này trở thành trung tâm văn hóa và học tập, là thầy dạy và là người hướng dẫn các nước thuộc Âu châu có nền văn hóa bị những kẻ xâm lăng man rợ đe dọa. Ngài sinh tại Cartagena, trong một gia đình có 3 vị thánh, ngài được người anh nghiêm khắc giáo dục, chính người anh này trở thành giám mục giáo phận Seville.
Ngài là người rất giỏi, đôi khi người ta gọi ngài là “Hiệu trưởng thời Trung cổ” (The Schoolmaster of the Middle Ages) vì bộ bách khoa ngài viết được dùng làm sách giáo khoa suốt 9 thế kỷ. Ngài cho xây chủng viện ở mỗi giáo phận, soạn tu luật cho các nhà dòng và mở trường học dạy các môn. Ngài viết nhiều sách, kể cả một tự điển, một bộ bách khoa toàn thư, một sách lịch sử Gô-tích và một sách lịch sử thế giới – bắt đầu bằng sự tạo thành. Ngài hoàn tất phụng vụ Mozarabic, vẫn được dùng ở Toledo, Tây Ban Nha. Vì các lẽ đó mà ngài (và vài vị thánh khác) được coi là thánh bổn mạng của internet.
Ngài tiếp tục sống khổ hạnh dù đã ngoài 70 tuổi. Trong 6 tháng cuối đời, ngài gia tăng làm việc bác ái nhiều đến độ nhà của ngài đầy người nghèo từ sáng tới khuya.
---------------------
[*] Arianism: Thuyết của Arius, thế kỷ IV, cho rằng chỉ có Thiên Chúa là bất biến và tự hữu, nhưng Ngôi Con không là Thiên Chúa mà chỉ là phàm nhân. Thuyết này từ chối thiên tính của Chúa Giêsu. Công đồng Nicê (AD 325) đã kết án Arius và tuyên bố “Ngôi Con đồng bản thể với Đức Chúa Cha.” Thuyết Arian được nhiều người bảo vệ tiếp 50 năm sau, nhưng cuối cùng cũng sụp đổ khi các hoàng đế Kitô giáo của Rome Gratian và Theodosius lên ngôi. Công đồng Constantinople đầu tiên (năm 381) phê chuẩn Tín điều của Công đồng Nicê và cấm thuyết Arian. Tà thuyết này vẫn tiếp tục trong các bộ lạc ở Đức suốt thế kỷ VII, và các niềm tin tương tự được duy trì đến ngày nay bởi tổ chức Nhân chứng của Giavê (Jehovah's Witnesses) và bởi một số người theo thuyết Nhất Vi Luận (Unitarianism) tương tự Tam Vị Nhất Thể, tức là Một Chúa Ba Ngôi.
Thánh Isidore ở Seville
(560? - 636)
Trong 76 năm cuộc đời của Thánh Isidore là thời kỳ tranh chấp cũng như phát triển của Giáo Hội Tây Ban Nha. Người Visigoth xâm lăng phần đất này trong một thế kỷ, và trước đó nửa thế kỷ trước khi Thánh Isidore chào đời thì họ đã thiết lập một thủ đô khác cho chính họ. Ðó là những người theo Arian -- họ cho rằng Ðức Kitô không phải là Thiên Chúa. Do đó, Tây Ban Nha bị chia làm đôi: Một dân tộc (người Công Giáo La Mã) phải chiến đấu với dân tộc khác (người Gô-tích Arian).
Thánh Isidore là người hợp nhất Tây Ban Nha, giúp quốc gia này trở nên một trung tâm văn hóa và học thuật cũng như một khuôn mẫu cho các quốc gia Âu Châu khác, mà các nền văn hóa ấy đang bị đe dọa bởi sự xâm lăng của những người man rợ.
Có thể nói Thánh Isidore sinh trong một gia đình thánh thiện của thế kỷ thứ sáu ở Tây Ban Nha. Hai người anh của ngài, Leander và Fulgentius, và người chị, Florentina, đều là các thánh được sùng kính ở Tây Ban Nha. Ðây cũng là một gia đình lãnh đạo và tài giỏi với các vị Leander và Fulgentius đều làm giám mục và Florentina làm mẹ bề trên.
Là một người tài giỏi về học thuật, đôi khi Thánh Isidore được gọi là "Sư Phụ của Thời Trung Cổ" vì cuốn bách khoa ngài viết, "Etymology" (Từ Nguyên Học) đã được dùng như sách giáo khoa trong chín thế kỷ. Ngài còn viết các sách về văn phạm, thiên văn, địa lý, sử ký, và tiểu sử cũng như thần học.
Kế vị anh mình là Ðức Leander, Isidore làm giám mục Seville trong 37 năm, ngài đặt ra các mẫu mực cho một đại diện chính phủ ở Âu Châu, đồng thời ngài tẩy chay các quyết định độc đoán và thành lập các thượng hội đồng để thảo luận về đường hướng của Giáo Hội Tây Ban Nha. Ngài yêu cầu mỗi một giáo phận đều phải có chủng viện, ngài viết quy luật cho các dòng tu và thành lập các môn học thuộc đủ mọi ngành. Thánh Isidore viết rất nhiều sách, kể cả một cuốn tự điển, một bộ bách khoa, một cuốn sử người Gô-tích và một cuốn sử thế giới bắt đầu từ khi Thiên Chúa tạo thành trời đất! Ngài hoàn thành bộ phụng tự Mozarabic mà ngày nay vẫn còn được sử dụng ở Toledo, Tây Ban Nha.
Ngay khi 80 tuổi, ngài vẫn sống khắc khổ. Trong sáu tháng sau cùng của cuộc đời, ngài gia tăng lòng bác ái đến độ, từ sáng đến tối, nhà của ngài lúc nào cũng đầy người nghèo. Ngài từ trần năm 636 và được Giáo Hội tuyên xưng là Tiến Sĩ Hội Thánh.
Lời Bàn
Mọi người chúng ta phải bắt chước Thánh Isidore về học thức và sự thánh thiện. Lòng bác ái, sự hiểu biết có thể chữa lành và hòa giải những người đau khổ. Chúng ta không phải là những người man rợ như đã xâm lăng Tây Ban Nha thời Thánh Isidore. Nhưng những người sa lầy trong sự giầu sang và choáng ngợp bởi các tiến bộ khoa học và kỹ thuật có thể mất đi lòng bác ái đối với tha nhân.
Ngày 4 tháng 4
THÁNH ISIĐÔRÔ,
GIÁM MỤC VÀ TIẾN SĨ HỘI THÁNH
I. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ
Thánh Isidore, quê tại Séville theo truyền khẩu, sinh khoảng năm 560 tại Andalousie (Tây Ban Nha) trong một gia đình gia giáo lành thánh: các anh em là hai giám mục Léandre và Fulgence, Người kế vị anh Léandre trên ngai giám mục thành Sévilla năm 601. Còn Florentine là chị Ngài.
Trong nhiệm kỳ giám mục khá lâu dài, người rao giảng chống lại những kẻ theo bè rối Ario và những người lạc giáo được gọi là nhóm “vô thủ lĩnh”. Họ không chấp nhận Đức Kitô có hai bản tính.
Gần Sévilla, ngài thành lập một ngôi trường – sau này rất nổi tiếng – để đào tạo các linh mục và giáo dân; ngài cũng là giảng viên tại chính ngôi trường này. Tại Công đồng Tolède lần thứ IV năm 633, ngài yêu cầu Giáo Hội phải thành lập các trường tương tự: đó là nguồn gốc các trường của Hội Thánh và Đan Viện, xuất hiện trước khi có các đại học.
Là một nhà văn lớn, một học giả uyên thâm về nền văn học ẩn sĩ Đông Phương và rất sùng mộ Origène, thánh nhân đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm, trong đó: tập Luận đề (Sentences) và ba quyển sách dọn đường cho các “Tổng Luận” thời Trung Cổ để trau dồi kiến thức lẫn tâm linh cho các linh mục, đan sĩ và giáo dân. Nhưng tác phẩm tuyệt tác của người vẫn là cuốn sách mang tựa đề tiếng La Tinh Etymologiae (dịch sang pháp ngữ: Étymologies sur l’origine de certaines choses– nguồn gốc các từ đầu ngành,): đó là một loại từ điển bách khoa (hai mươi quyển) bao gồm mỹ thuật, kỹ thuật, luật, y học, các khoa học tự nhiên, tôn giáo...
Là sử gia (lịch sử dân Goths), là thi sĩ và nhà Phụng Vụ (bộ Sách Lễ và Kinh Nhật Tụng, được cho là của thánh nhân, là cốt lõi cho Phụng Vụ tương lai mozarabe); ngài còn là luật gia (Regula monachorum), nhà thần học và mục tử, nên ngài truyền bá truyền thống Công Giáo và chuyên cần tổ chức Hội Thánh. Năm 633, với tư cách là một vị chủ trì Công Đồng Quốc Gia lần thứ IV tại Tolède, ngài ấn định một nền Phụng Vụ thống nhất cho toàn Tây Ban Nha và miền Gaule narbonaise. Người ta cho rằng ngài đã soạn lời nguyện Adsumus đọc trong mọi Công Đồng.
Isidore de Séville chiếm vị trí hàng đầu trong suốt thời Trung Cổ; vào thời này, các tác phẩm La Tinh của thánh nhân được nhiều người đọc và sao chép nhiều nhất. Theo Bède Khả Kính (thế kỷ VIII), thánh nhân là tác giả được ưa chuộng nhất sau Thánh Kinh.
Qua đời tại Séville năm 636, sau 25 năm làm giám mục và được tôn kính như một vị hiển thánh trong toàn cõi Phương Tây từ thế kỷ IX; ngài được Đức Giáo Hoàng Innocent XIII tôn phong làm tiến sĩ Hội Thánh năm 1722. Thi hài thánh nhân được sùng kính tại Léôn (Tây Ban Nha). Nghệ thuật ảnh tượng thường biểu hiện hình ảnh ngài cầm bút lông, với đàn ong vây quanh hay bên cạnh tổ ong.
II BÀI HỌC TỪ CUỘC SỐNG.
Thánh Isidore đã để lại cho hậu thế rất nhiều Bài học từ cuộc sống của ngài mà bài học quan trọng nhất có lẽ là việc quan tâm đến việc giáo dục. Chính vì sự quan tâm này mà ngài đã lập ra trường đào tạo các linh mục cũng như thành lập các trường tư để giáo dục con người.
Chúng ta phải nói đây là điểm son trong cuộc đời giám mục của ngài.
Nếu Chúa Giêsu ngày xưa đã dành nhiều thời giờ để huấn luyện các tông đồ để sau Người về trời các ngài có thể thay thế Chúa trong việc tiếp tục rao giảng Tin Mừng Nước Trời thì các giám mục cũng phải làm tương tự như vậy. Công đồng Vaticanô II trong sắc lệnh về Giáo dục đã nói rất rõ về bổn phận này.
Giáo Hội từ xưa tới nay đã có những đóng góp to lớn và hiệu quả cho toàn thể nhân loại đang sống trên hành tinh này bằng những hoạt động giáo dục của Giáo Hội. Điều này không còn ai dám phủ nhận.
Phần chúng ta hôm nay, hỏi chúng ta đã biết quan tâm đủ đến việc giáo dục con em chúng ta?
Ai cũng biết con người không được giáo dục là con người sẽ trở nên như thế nào.
Câu chuyện sau đây xảy ra ở xứ Esches miền Vosges nước Pháp, khoảng cuối thế kỷ 19. Một hôm, Cha xứ gặp một bà nọ và bảo:
- Bà nhớ cho mấy cháu nhỏ đi học giáo lý để chuẩn bị rước lễ vỡ lòng nghe!
- Cho hay không chẳng quan hệ gì,
Bà vừa nói vừa chỉ tay về phía rừng thông
- Cha xem, cây thông đâu cần học giáo lý mà chúng vẫn tươi tốt và phát triển như thường đó !
- Ờ! vậy con heo trong chuồng cũng thế phải không bà ?
Sau đó một thời gian vào năm l910, cả xứ Esches xôn xao trước hung tin cậu con trai của người đàn bà nói trên đã bóp cổ giết chết mẹ, vì bà ta không đưa liền cho nó đi tiêu xài nhậu nhẹt. . . mạng lưới pháp luật đã tóm cổ nó và tuyên án tử sau đó mấy ngày.
Một câu truyện vui khác nhưng cũng thật ý nghĩa.
Có một nhà quí tộc đến thăm một vị ẩn sĩ nọ. Trước cổng nhà, vị ẩn sĩ nuôi một con két. Khi thấy nhà quí tộc con két liền nói:
- Chào nhà quí tộc, chắc ngài đi đường xa mệt lắm, vào đây nghỉ ngơi một chút, cứ xem như đây là nhà của quí nhân.
Vào trong túp lều đơn sơ của vị ẩn sĩ, nhà quí tộc thắc mắc:
-Thưa ngài, cách đây không xa, một con két đã nói với tôi những lời hoàn toàn có tính rủa xả và đe dọa. Còn con két của ngài chỉ nói những lời lịch sự nhã nhặn.
Vị ẩn sĩ mỉm cười giải thích:
- Hai con két này vốn là anh em với nhau.
Nhà quí tộc ngạc nhiên:
- Anh em, nhưng sao lại nói năng khác nhau như thế ? Tại sao con két của ngài lịch sự tử tế, còn con két kia lại hung hăng dữ tợn?
Vị ẩn sĩ trả lời:
Két thì không có két nào tốt, két nào xấu cả, chúng chỉ học và lặp lại những gì chúng ta đã nghe mà thôi!
Cây cối trồng nơi đất tốt thì sinh trái tốt, trồng nơi đất xấu thì sinh trái xấu. Thú vật được huấn luyện thì thuần thục, không được huấn luyện thì vẫn giữ nguyên tính dã thú của nó. Kinh nghiệm cho thấy nguyên tắc này lại càng được áp dụng cho loài người: Được dạy dỗ uốn nắn thì nên người, mà chịu ảnh hưởng xấu thì ra hư hỏng.
Nguyên tắc trên lại càng có giá trị hơn trong lãnh vực đức tin. Không được đức tin soi dẫn, con người dễ rơi vào lầm lạc và mù quáng; sai lầm trong tư tưởng dẫn đến lỗi lầm trong hành động. Một cuộc sống không được đức tin soi dẫn hoặc gạt bỏ ra bên ngoài chiều kích tôn giáo, là một cuộc sống bất hạnh nhất. Con người không những rơi vào lầm lạc mà nhất là không biết mình đang lầm lạc.
Chúa Giêsu đã quả quyết:
“Ta là Đường, là Sự thật là là Sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Ta”.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
CÁO PHÓ: CỤ ÔNG STÊPHANÔ TRƯƠNG TRỌNG LỘC ĐÃ AN NGHỉ TRONG CHÚA
Tản mạn một chút hai chữ tình yêu
Chút Suy Tư Ngày Lễ Lá
Khoảng lặng giữa Tình yêu và Phản bội
Gx Thổ Hoàng: Tĩnh tâm giới Gia trưởng
Tôi là ai trong tiếng tung hô và nhánh gai nhọn?
Lời mời gọi từ hương trầm và lòng thanh tẩy
Tức cảnh hình ảnh cha già
Từ phản bội đến trung tín
Mơ chiều