“Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống,
và sống dồi dào”. (Ga 10,10)
BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14a. 36-41
“Thiên Chúa đã tôn Người làm Chúa và làm Đấng Kitô”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô”.
Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: “Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì ?” Phêrô nói với họ: “Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến”. Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: “Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này”. Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.
Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
Hoặc đọc: Alleluia.
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. - Đáp.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con. - Đáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa. - Đáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.- Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Pr 2, 20b-25
“Anh em đã trở về cùng Đấng canh giữ linh hồn anh em”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, vì Đức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó mình cho Đấng xét xử công minh; chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.
Đó là lời Chúa.
Tin Mừng: Ga 10,1-10
1 Khi ấy, Chúa Giê-su nói với người Do Thái rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.
2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.
4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh.
5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ”.
6 Chúa Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.
7 Vậy, Chúa Giê-su lại nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.
8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.
10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.
Bài giảng của Ðức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng
Sứ điệp của các Đức Giáo Hoàng nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi
GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG LỄ CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH NĂM A
WHĐ (30/4/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của các lễ Chúa nhật, lễ trọng theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích trong Tập sách Hướng dẫn giảng thuyết được công bố qua Sắc lệnh ký ngày 29.06.2014.
Số 754, 764, 2665: Đức Kitô là Mục Tử và là Cửa chuồng chiên
Số 874, 1120, 1465, 1536, 1548-1551, 1564, 2179, 2686: Các linh mục như là những mục tử
Số 14, 189, 1064, 1226, 1236, 1253-1255, 1427-1429: Hối cải, Đức tin và Phép Rửa
Số 618, 2447: Đức Kitô là gương mẫu trong sự chịu đựng
Số 754, 764, 2665: Đức Kitô là Mục Tử và là Cửa chuồng chiên
754. “Quả thật, Hội Thánh là chuồng chiên mà cửa vào duy nhất và cần thiết của chuồng chiên đó là Đức Kitô [1] . Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Ngài sẽ là mục tử của đàn chiên đó [2] , và những con chiên của đàn ấy, tuy do các mục tử phàm nhân chăn dắt, nhưng luôn được dẫn dắt và nuôi dưỡng bởi chính Đức Kitô, vị Mục tử nhân lành và Thủ lãnh các mục tử [3] , Đấng đã hiến mạng sống mình cho các con chiên [4] ” [5] .
764. “Quả thật, Nước Thiên Chúa sáng tỏ trước mặt mọi người trong lời nói, hành động và sự hiện diện của Đức Kitô” [6] . Ai đón nhận lời của Chúa Giêsu là đón nhận “chính Nước Thiên Chúa” [7] . Mầm mống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa là “một đoàn chiên nhỏ bé” (Lc 12,32), gồm những người được Chúa Giêsu đến triệu tập quanh Người và chính Người là mục tử của họ [8] . Những người đó họp thành gia đình đích thực của Chúa Giêsu [9] . Những ai Người đã quy tụ quanh Người, Người đã dạy cho họ một “cách hành động” mới, và cả một kinh nguyện riêng [10] .
2665. Kinh nguyện của Hội Thánh, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và việc cử hành phụng vụ, dạy chúng ta cầu nguyện với Chúa Giêsu. Mặc dù kinh nguyện đó chủ yếu dâng lên Chúa Cha, nhưng trong tất cả các truyền thống phụng vụ, vẫn hàm chứa những hình thức cầu nguyện dâng lên Đức Kitô. Một số Thánh vịnh, như hiện được thích ứng trong kinh nguyện của Hội Thánh, và Tân Ước, đặt vào môi miệng và khắc ghi trong tâm hồn chúng ta những lời khẩn nguyện dâng lên Đức Kitô: Lạy Con Thiên Chúa, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Chúa, Đấng Cứu độ, Chiên Thiên Chúa, Đức Vua, Con chí ái của Thiên Chúa, Con Đức Trinh Nữ, Vị Mục tử nhân lành, Sự Sống của chúng con, Ánh sáng của chúng con, Hy vọng của chúng con, Sự Phục sinh của chúng con, Bạn của loài người.
553. Chúa Giêsu ủy thác cho ông Phêrô một thẩm quyền đặc biệt: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời; dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Quyền chìa khoá” là quyền cai quản Nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh. Chúa Giêsu, “Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11) xác nhận nhiệm vụ đó sau khi Người phục sinh: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh. Chúa Giêsu ủy thác quyền này cho Hội Thánh qua thừa tác vụ của các Tông Đồ [11] , và đặc biệt của ông Phêrô, người duy nhất Chúa minh nhiên trao phó chìa khóa Nước Trời.
857. Hội Thánh có đặc tính tông truyền vì được đặt nền trên các Tông Đồ, và điều này được hiểu theo ba nghĩa:
– Hội Thánh đã và đang được xây dựng trên “nền móng là các Tông Đồ” (Ep 2,20) [12] , là những chứng nhân đã được chính Đức Kitô tuyển chọn và sai đi [13] ;
– Với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Đấng hằng ngự trong Hội Thánh, Hội Thánh gìn giữ và lưu truyền giáo huấn [14] , kho tàng quý báu, những lời lành thánh nghe được từ các Tông Đồ [15] ;
– Hội Thánh tiếp tục được giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn bởi các Tông Đồ cho đến khi Đức Kitô trở lại nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử: Giám mục đoàn, “với sự trợ giúp của các linh mục, hợp nhất với Đấng kế nhiệm thánh Phêrô là mục tử tối cao của Hội Thánh” [16] .
“Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Đồ, Chúa luôn che chở giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa…” [17] .
861. “Để sứ vụ đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các Tông Đồ đã trao cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, như trao một di chúc, nhiệm vụ phải hoàn thành và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khuyên nhủ họ lưu ý đến hết đoàn chiên mà trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. Các ngài đã thiết đặt những người như vậy và quy định rằng sau đó, khi những người nay chết, thì những người đàn ông khác đã được thử thách sẽ lãnh nhận thừa tác vụ của họ” [18].
881. Chúa đã đặt một mình ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, làm đá tảng của Hội Thánh Người. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh [19] ; và đặt ông làm mục tử của toàn thể đoàn chiên [20] . “Tuy nhiên, nhiệm vụ tháo gỡ và cầm buộc, đã được ban cho ông Phêrô, rõ ràng cũng đã được trao ban cho Tông Đồ đoàn, hợp nhất với đầu của mình” [21] . Nhiệm vụ mục tử này của thánh Phêrô và của các Tông Đồ khác thuộc về nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ đó được tiếp tục bởi các Giám mục dưới quyền tối thượng của Giám mục Rôma.
896. Vị Mục Tử nhân lành phải là gương mẫu và “khuôn mẫu” cho nhiệm vụ mục tử của Giám mục. Ý thức về những yếu đuối của mình, Giám mục “có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài không nên từ chối lắng nghe những kẻ thuộc quyền, mà ngài ân cần săn sóc như những người con thật của mình…. Còn các tín hữu phải gắn bó với Giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô gắn bó với Chúa Cha” [22] .
“Tất cả anh em hãy vâng phục Giám mục, như Chúa Giêsu Kitô vâng phục Chúa Cha; hãy vâng phục linh mục đoàn như vâng phục các Tông Đồ; và hãy kính trọng các phó tế như kính trọng lệnh truyền của Chúa. Chớ gì không ai làm điều gì có liên quan đến Hội Thánh một cách tách biệt với Giám mục” [23] .
1558. “Việc thánh hiến Giám mục, cùng với nhiệm vụ thánh hoá, cũng trao ban nhiệm vụ giảng dạy và cai quản…. Rõ ràng là nhờ việc đặt tay và nhờ các lời thánh hiến, ân sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thông và ấn tín thánh thiêng được in ấn, đến độ các Giám mục, một cách trổi vượt và có thể thấy được, đảm nhận các vai trò của chính Đức Kitô là Thầy, Mục tử và Thượng tế, và hành động trong cương vị của Người (in Eius persona agant)” [24] . “Nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho các Giám mục, các ngài trở thành những Thầy dạy đức tin, Thượng tế, và Mục tử thật sự và đích thực” [25] .
1561. Những điều trên đây giải thích tại sao bí tích Thánh Thể do một Giám mục cử hành lại có một ý nghĩa hết sức đặc biệt, xét như sự diễn tả một Hội Thánh quy tụ quanh bàn thờ, dưới sự chủ tọa của vị đại diện hữu hình của Đức Kitô, là Mục tử nhân lành và là Đầu của Hội Thánh Người [26] .
1568. “Tất cả các linh mục, được thiết đặt vào hàng linh mục nhờ việc truyền chức, liên kết mật thiết với nhau bằng tình huynh đệ do bí tích; nhưng cách đặc biệt trong một giáo phận, nơi các ngài được chỉ định phục vụ dưới quyền một Giám mục riêng, các ngài hợp thành một linh mục đoàn duy nhất” [27] . Tính duy nhất của linh mục đoàn được biểu lộ qua một tập tục phụng vụ, đó là trong nghi thức truyền chức linh mục, sau Giám mục, chính các linh mục cũng đặt tay [lên đầu vị tiến chức].
1574. Cũng như trong các bí tích khác, nghi thức truyền chức có kèm theo một số nghi thức phụ. Tuy rất khác biệt trong những truyền thống phụng vụ khác nhau, nhưng cách chung, các nghi thức phụ này đều diễn tả nhiều khía cạnh của ân sủng bí tích. Trong nghi lễ La tinh, có những nghi thức khởi đầu gồm: việc giới thiệu và tuyển chọn tiến chức, huấn dụ của Giám mục, khảo hạch tiến chức, kinh cầu các Thánh; những nghi thức này xác nhận ứng viên được tuyển chọn đúng theo cách làm của Hội Thánh, và chuẩn bị cho hành vi long trọng là việc thánh hiến. Sau nghi thức truyền chức, còn có những nghi thức kèm theo để diễn tả và thực hiện cách biểu tượng mầu nhiệm vừa cử hành: đối với tân Giám mục và tân linh mục có việc xức dầu thánh, là dấu chỉ của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần cách đặc biệt làm cho thừa tác vụ của các ngài được sinh hoa kết quả; việc trao cho tân Giám mục sách Tin Mừng, nhẫn, mũ và gậy như dấu chỉ cho sứ vụ tông đồ của ngài là rao giảng Lời Chúa, sự trung thành của ngài đối với Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô, và nhiệm vụ của ngài là mục tử của đoàn chiên của Chúa; việc trao cho tân linh mục dĩa và chén thánh, là dấu chỉ của lễ vật của dân thánh [28] mà tân linh mục được kêu gọi để dâng lên Thiên Chúa; việc trao sách Tin Mừng cho tân phó tế là người đã lãnh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô.
Số 874, 1120, 1465, 1536, 1548-1551, 1564, 2179, 2686: Các linh mục như là những mục tử
874. Chính Đức Kitô là nguồn mạch của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Chính Người đã thiết lập thừa tác vụ, và trao ban thẩm quyền, sứ vụ, phương hướng và mục đích cho thừa tác vụ trong Hội Thánh:
“Để dân Thiên Chúa được chăn dắt và luôn được tăng trưởng, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau trong Hội Thánh của Người hầu mưu ích cho toàn thân. Thật vậy, các thừa tác viên, những người sử dụng quyền thánh chức, phục vụ các anh chị em mình, để mọi người thuộc dân Thiên Chúa … đạt tới ơn cứu độ” [29] .
1120. Thừa tác vụ có chức thánh hay “chức tư tế thừa tác” [30] là để phục vụ chức tư tế do bí tích Rửa Tội. Chức tư tế thừa tác bảo đảm rằng trong các bí tích, chính Đức Kitô hành động nhờ Chúa Thánh Thần cho Hội Thánh. Sứ vụ cứu độ mà Chúa Cha ủy thác cho Chúa Con khi xuống thế làm người, được trao cho các Tông Đồ và qua các ngài cho những người kế nhiệm các ngài: những vị này lãnh nhận Thánh Thần của Chúa Giêsu để hành động nhân danh Người và trong cương vị của Người [31] . Như vậy, thừa tác vụ có chức thánh là sợi dây mang tính bí tích nối kết hành động phụng vụ với những gì các Tông Đồ đã nói và đã làm, và qua các Tông Đồ, với những gì Đức Kitô, Đấng là nguồn mạch và nền tảng của các bí tích, đã nói và đã làm.
1465. Khi cử hành bí tích Thống Hối, tư tế chu toàn thừa tác vụ của vị Mục tử nhân lành đi tìm chiên lạc, của người Samaritanô nhân hậu băng bó các vết thương, của người Cha chờ đợi đứa con hoang đàng và đón nhận nó khi nó trở về, của vị thẩm phán công chính không thiên vị ai, và xét xử vừa công bằng vừa hay thương xót. Tắt một lời, tư tế là dấu chỉ và là dụng cụ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.
1536. Truyền Chức Thánh là bí tích qua đó, sứ vụ Đức Kitô đã ủy thác cho các Tông Đồ của Người được tiếp tục thực thi trong Hội Thánh cho đến tận thế: vì vậy, đây là bí tích của thừa tác vụ Tông Đồ. Bí tích này gồm ba cấp bậc: chức Giám mục, chức linh mục và chức phó tế.
1548. Chính Đức Kitô hiện diện với Hội Thánh Người trong việc phục vụ của các thừa tác viên có chức thánh; Người hiện diện với tư cách là Đầu của thân thể Người, là Mục Tử của đoàn chiên của Người, là Thượng Tế của hy lễ cứu chuộc, là Thầy dạy chân lý. Đó là điều Hội Thánh muốn diễn tả khi xác quyết rằng vị tư tế, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, hành động trong cương vị Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis) [32] :
“Cùng một vị Tư Tế là chính Đức Kitô Giêsu, còn thừa tác viên của Người thật ra đảm nhận cương vị thánh thiêng của Người. Bởi vì vị này, nhờ sự thánh hiến linh mục mà ông đã lãnh nhận, ông được đồng hoá với Vị Thượng Tế, và ông được quyền hành động với quyền năng và cương vị của chính Đức Kitô (virtute ac persona ipsius Christi)” [33] .
“Đức Kitô là nguồn mạch mọi chức tư tế: vì vị tư tế của luật cũ là hình bóng của Người; còn vị tư tế của luật mới hành động trong cương vị của Đức Kitô” [34] .
1549. Nhờ thừa tác vụ thánh chức, nhất là của các Giám mục và linh mục, sự hiện diện của Đức Kitô với tư cách là Đầu Hội Thánh, trở nên hữu hình giữa cộng đoàn tín hữu [35] . Theo kiểu nói rất hay của thánh Ignatiô Antiôchia, Giám mục là typos tou Patros, như là hình ảnh sống động của Chúa Cha [36] .
1550. Sự hiện diện như vậy của Đức Kitô trong thừa tác viên không được hiểu là vị này đã được gìn giữ khỏi mọi yếu đuối của con người, khỏi tinh thần thống trị, khỏi sai lầm và khỏi cả tội lỗi. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần không bảo đảm cho tất cả các hành vi của thừa tác viên bằng cùng một cách thức. Khi thừa tác viên cử hành các bí tích, thì điều bảo đảm này được trao ban, nên thậm chí tội lỗi của thừa tác viên cũng không thể ngăn cản hiệu quả của ân sủng; còn trong nhiều hành vi khác, dấu ấn con người của thừa tác viên để lại những vết tích, không phải luôn luôn là dấu chỉ của sự trung thành với Tin Mừng và vì vậy những hành vi đó có thể làm phương hại đến sự sinh hoa kết quả trong việc tông đồ của Hội Thánh.
1551. Chức tư tế này là chức tư tế thừa tác. “Nhiệm vụ đó, được Chúa trao phó cho các mục tử của dân Người, thật sự là một việc phục vụ” [37] . Nó hoàn toàn hướng tới Đức Kitô và hướng tới con người. Chức tư tế thừa tác hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Kitô và vào chức tư tế duy nhất của Người, và được thiết lập vì con người và cộng đoàn Hội Thánh. Bí tích Truyền Chức Thánh thông ban “quyền thánh chức”, không là gì khác hơn là quyền năng thánh thiêng của Đức Kitô. Vì vậy, việc thực thi quyền này phải rập theo mẫu gương của Đức Kitô, Đấng vì yêu thương đã trở nên người rốt hết và là tôi tớ của mọi người [38] . “Chúa đã tuyên bố rõ ràng rằng việc chăm sóc đoàn chiên là bằng chứng tình yêu đối với Người” [39] .
1564. “Tuy không có quyền cao nhất của chức thượng tế và tùy thuộc các Giám mục trong khi thực thi năng quyền của mình, cac linh mục vẫn được liên kết với các Giám mục trong danh dự tư tế, và nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Đức Kitô, vị Thượng Tế vĩnh cửu [40] , để rao giảng Tin Mừng, hướng dẫn các tín hữu, và cử hành việc phụng tự thần linh với tư cách là những tư tế đích thực của Giao Ước Mới” [41] .
2179. “Giáo xứ là một cộng đoàn Kitô hữu nhất định được thiết lập cách bền vững trong Giáo Hội địa phương, và trách nhiệm mục vụ được ủy thác cho cha sở như là chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền Giám mục giáo phận” [42] . Giáo xứ là nơi mọi tín hữu có thể tập họp để cử hành bí tích Thánh Thể mỗi Chúa nhật. Giáo xứ đưa dân Kitô hữu vào sinh hoạt thông thường của đời sống phụng vụ, và tập họp họ để cử hành phụng vụ, giảng dạy cho họ giáo lý cứu độ của Đức Kitô; thực thi đức mến của Chúa trong các công việc từ thiện và huynh đệ [43] :
“Bạn cũng có thể cầu nguyện ở nhà; nhưng quả thật, bạn không thể cầu nguyện như ở nhà thờ được, vì ở nhà thờ có đông người, đồng thanh kêu lên Thiên Chúa…. Ở nhà thờ còn có điều hơn nữa, đó là sự đồng tâm nhất trí, có dây liên kết của đức mến và kinh nguyện của các linh mục” [44] .
2686. Các thừa tác viên có chức thánh cũng là những người có trách nhiệm trong việc đào tạo cho anh chị em mình trong Đức Kitô biết cầu nguyện. Những người này, là các tôi tớ của vị Mục tử nhân lành, được truyền chức thánh để dẫn dắt dân Thiên Chúa đến các nguồn mạch sống động của việc cầu nguyện: đến Lời Chúa, phụng vụ, đời sống đối thần, đến “Ngày hôm nay” của Thiên Chúa trong những hoàn cảnh cụ thể [45].
Số 14, 189, 1064, 1226, 1236, 1253-1255, 1427-1429: Hối cải, Đức tin và Phép Rửa
14. Những ai thuộc về Đức Kitô nhờ đức tin và Phép Rửa đều phải tuyên xưng đức tin của Phép Rửa trước mặt mọi người [46] . Vì thế, Sách Giáo Lý này trước hết trình bày nội dung của mạc khải và đức tin: qua mạc khải, Thiên Chúa đến với con người và ban chính mình Ngài cho con người; nhờ đức tin, con người đáp lại Thiên Chúa (Đoạn 1). Kinh Tin Kính tóm lược những hồng ân mà Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc mọi điều thiện hảo, là Đấng Cứu chuộc, là Đấng Thánh hoá, đã ban cho con người. Các hồng ân trên được sắp đặt trong “ba chương” về Phép Rửa, đó là tin vào một Thiên Chúa duy nhất: Chúa Cha toàn năng, Đấng Tạo Hoá; Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài, là Chúa và là Đấng Cứu độ chúng ta; và Chúa Thánh Thần, trong Hội Thánh (Đoạn 2).
189. Việc “tuyên xưng đức tin” đầu tiên được thực hiện khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. “Tín biểu” trước hết là Tín biểu của Phép Rửa. Bởi vì Phép Rửa được ban “nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các chân lý đức tin được tuyên xưng trong Phép Rửa đã được sắp xếp theo tương quan của chúng với Ba Ngôi Chí Thánh.
1064. Vì vậy, từ “Amen” ở cuối Tín biểu lặp lại và xác nhận thuật ngữ đầu tiên của Tín biểu: “Tôi tin”. Tin là thưa “Amen” đối với các lời, các lời hứa và các điều răn của Thiên Chúa, và là phó thác bản thân một cách tuyệt đối cho Đấng là “Amen” của tình yêu vô tận và của sự trung tín trọn vẹn. Vậy đời sống Kitô hữu mỗi ngày sẽ là “Amen” cho lời “Tôi tin” trong bản Tuyên xưng đức tin khi chúng ta lãnh nhận Phép Rửa:
“Tín biểu của bạn phải là như gương soi cho bạn. Hãy ngắm nhìn bạn trong đó, để xem bạn có tin tất cả những gì bạn tuyên xưng là bạn tin hay không, và hằng ngày hãy vui mừng trong đức tin của bạn” [47] .
1226. Từ ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh đã cử hành và ban bí tích Rửa Tội. Thật vậy, thánh Phêrô tuyên bố với đám đông đang bối rối vì bài giảng của ngài: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được hồng ân là Thánh Thần” (Cv 2,38). Các Tông Đồ và những cộng sự viên của các ngài ban bí tích Rửa Tội cho những ai tin vào Chúa Giêsu: những người Do Thái, những người kính sợ Thiên Chúa và những người ngoại giáo [48] . Bí tích Rửa Tội luôn gắn liền với đức tin. Thánh Phaolô tuyên bố với viên cai ngục canh giữ ông ở Philipphê: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ”. Trình thuật kể tiếp: “Lập tức, ông ấy được chịu Phép Rửa cùng với tất cả người nhà” (Cv 16,31-33).
1236. Việc công bố Lời Chúa dọi chiếu chân lý được mạc khải cho các ứng viên và cộng đoàn, và khơi lên lời đáp lại của đức tin, vốn không thể tách rời khỏi bí tích Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội, một cách đặc biệt, là “bí tích của đức tin”, bởi vì nó là cửa ngõ bí tích dẫn vào đời sống đức tin.
1253. Bí tích Rửa Tội là bí tích của đức tin [49] . Nhưng đức tin cần đến cộng đoàn các tín hữu. Mỗi Kitô hữu chỉ có thể tin trong đức tin của Hội Thánh. Đức tin cần phải có để được chịu Phép Rửa, chưa phải là đức tin hoàn hảo và trưởng thành, nhưng là một khởi đầu cần được tăng trưởng. Hội Thánh hỏi người dự tòng hoặc người đỡ đầu: “Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?” Và họ trả lời: “Con xin đức tin”.
1254. Đức tin của mọi người đã chịu Phép Rửa, cả nhi đồng cả người thành niên, cần được tăng trưởng sau bí tích Rửa Tội. Vì vậy, hằng năm, trong đêm Canh thức Vượt Qua, Hội Thánh cử hành việc lặp lại các lời hứa Phép Rửa. Việc chuẩn bị lãnh nhận bí tích Rửa Tội mới chỉ đưa tới ngưỡng cửa của đời sống mới. Bí tích Rửa Tội là nguồn mạch của đời sống mới trong Đức Kitô, từ đó tuôn trào toàn bộ đời sống Kitô hữu.
1255. Để ân sủng của bí tích Rửa Tội có thể được triển nở, sự hỗ trợ của cha mẹ là rất quan trọng. Cha mẹ đỡ đầu cũng có nhiệm vụ trong công việc này. Họ phải là những tín hữu kiên vững, có khả năng và sẵn sàng giúp đỡ người mới chịu Phép Rửa, nhi đồng cũng như người thành niên, trên con đường của đời sống Kitô hữu [50] . Nhiệm vụ của cha mẹ đỡ đầu thực sự là một chức vụ chính thức (officium) trong Hội Thánh [51] . Toàn thể cộng đoàn giáo hội đều dự phần trách nhiệm trong việc làm triển nở và giữ gìn ân sủng đã được lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội.
1427. Chúa Giêsu kêu gọi hối cải. Lời kêu gọi này là một phần cốt yếu của việc loan báo Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Trong việc rao giảng của Hội Thánh, lời kêu gọi này trước hết nhằm đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Như vậy, bí tích Rửa Tội là vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Chính nhờ tin vào Tin Mừng và nhờ bí tích Rửa Tội [52] mà người ta từ bỏ sự dữ và đạt được ơn cứu độ, nghĩa là được ơn tha thứ mọi tội lỗi và được hưởng hồng ân sự sống mới.
1428. Lời kêu gọi hối cải của Đức Kitô vẫn tiếp tục vang vọng trong đời sống các Kitô hữu. Cuộc hối cải thứ hai này là một nhiệm vụ liên tục của toàn thể Hội Thánh vì “mang trong lòng mình những tội nhân, vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện, Hội Thánh phải không ngừng thống hối và canh tân” [53] . Nỗ lực hối cải này không chỉ là công việc của con người. Việc thống hối là hành động của một “tâm hồn tan nát” [54] được ân sủng lôi kéo và thúc đẩy [55] , để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước [56] .
1429. Có thể lấy cuộc hối cải của thánh Phêrô, sau khi chối Thầy mình ba lần, làm bằng chứng cho điều đó. Cái nhìn của lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu khiến ông khóc lóc thống hối [57] và, sau khi Chúa sống lại, ông đã ba lần khẳng định tình yêu của ông đối với Người [58] . Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn. Điều này được thấy rõ trong lời kêu gọi của Chúa với toàn thể Hội Thánh: “Hãy hối cải!” (Kh 2,5.16).
Thánh Ambrôsiô nói về hai cuộc hối cải: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Thống Hối” [59].
Số 618, 2447: Đức Kitô là gương mẫu trong sự chịu đựng
618. Thánh giá là hy tế duy nhất của Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người [60] . Nhưng bởi vì, trong Ngôi Vị Thiên Chúa nhập thể của Người, “một cách nào đó Người đã tự kết hợp với toàn thể mọi người” [61] , nên Người đã “ban cho mọi người một khả năng để, theo cách Thiên Chúa biết, họ được kết hợp vào mầu nhiệm Vượt Qua” [62] . Người kêu gọi các môn đệ vác thập giá mình mà theo Người [63] , bởi vì Người đã chịu khổ nạn vì chúng ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Người [64] . Quả thật, Người cũng muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu chuộc của Người được kết hợp vào hy tế ấy [65] . Điều đó được thực hiện, một cách cao cả nhất, nơi Mẹ Người, Mẹ được kết hợp vào mầu nhiệm cuộc khổ nạn cứu chuộc của Người một cách mật thiết hơn bất cứ ai khác [66] .
“Đây là chiếc thang thật và duy nhất của thiên đàng, và ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời” [67] .
2447. Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần của họ [68] . Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ là những việc từ thiện về mặt tinh thần, cũng như tha thứ và nhẫn nhục chịu đựng. Các việc từ thiện về mặt vật chất gồm có: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết [69] . Trong các công việc đó, bố thí cho người nghèo [70] là một trong những bằng chứng chủ yếu của tình bác ái huynh đệ; đó cũng là việc thực thi đức công bằng làm đẹp lòng Thiên Chúa [71] :
“Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3,11). “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi” (Lc 11,41). “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2,15-16) [72] .
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với các tín hữu vào Chúa nhật 4 Phục sinh năm A.
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (30/4/2023) - Tôi đến để chiên được sống
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (03/5/2020) - Phân định tiếng Chúa và tiếng ma quỷ
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (07/5/2017) - Chức linh mục là để phục vụ
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục snh năm A (11/5/2014) - Hãy quấy rầy các chủ chăn
Đức Bênêđictô XVI, Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (13/4/2008) - Ơn gọi và sứ vụ
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (30/4/2023) - Tôi đến để chiên được sống
(Tông du Hungary)
Những lời cuối cùng Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe tóm tắt ý nghĩa sứ vụ của Người: “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Đây là điều người mục tử nhân lành làm: hy sinh tính mạng vì đoàn chiên của mình. Như thế, Chúa Giêsu, như một mục tử đi tìm đoàn chiên của mình, đã đến tìm chúng ta khi chúng ta lạc lối; với tư cách là mục tử, Người đến để cứu chúng ta khỏi cái chết; như một mục tử biết từng con chiên của mình và yêu thương chúng với sự dịu dàng vô hạn, Người đã đưa chúng ta vào ràn chiên của Chúa Cha, làm cho chúng ta trở nên con cái của Người.
Vì thế, chúng ta hãy chiêm ngắm hình ảnh của Vị Mục Tử Nhân Lành, và chúng ta hãy suy nghĩ về hai hành động mà theo Tin Mừng, Người thực hiện cho đoàn chiên của mình: trước hết Người gọi tên từng con, sau đó dẫn chúng ra.
Chúa gọi từng người bằng tên
Trước hết, “gọi tên từng con chiên của mình” (c. 3). Khi bắt đầu lịch sử cứu độ, chúng ta chẳng có công trạng gì, khả năng, hay cơ cấu của mình; nguyên thuỷ bắt nguồn là từ tiếng gọi của Thiên Chúa, ước muốn của Người đến với chúng ta, sự quan tâm của Người đối với mỗi người chúng ta, lòng thương xót dồi dào của Người muốn cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, để ban cho chúng ta sự sống dồi dào và niềm vui bất tận. Chúa Giêsu đến với tư cách là Mục Tử Nhân Lành để gọi chúng ta và đưa chúng ta về nhà. Khi đó, chúng ta, nhớ lại với lòng biết ơn, có thể nhớ lại tình yêu của Người dành cho chúng ta, vì chúng ta những kẻ đã xa Người, vâng, trong khi “tất cả chúng ta, với tư cách là đoàn chiên, bị lạc mất nhau” và “mỗi người mỗi ngả” (Is 53:6), Người gánh lấy sự gian ác và tội lỗi của chúng ta, đem chúng ta về với trái tim Chúa Cha. Như vậy, chúng ta đã nghe Tông đồ Phêrô trong bài đọc thứ hai: “Trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em.” (1Pr 2:25). Và cho đến hôm nay, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, trong những gì chúng ta mang trong lòng, trong sự hoang mang, trong nỗi sợ hãi, trong cảm giác thất bại đôi khi tấn công chúng ta, trong ngục tù buồn bã đe dọa giam cầm chúng ta, Người gọi chúng ta . Người đến như một Mục Tử nhân lành và gọi đích danh chúng ta, để cho chúng ta biết chúng ta quý giá biết bao trước mắt Người, để chữa lành những vết thương của chúng ta và mang lấy những yếu đuối của chúng ta, để quy tụ chúng ta hiệp nhất trong ràn chiên của Người và làm cho chúng ta trở nên thân thuộc với Chúa Cha và với nhau.
Anh chị em thân mến, khi chúng ta có mặt tại đây sáng nay, chúng ta cảm thấy niềm vui được làm dân thánh của Thiên Chúa: tất cả chúng ta đều được sinh ra từ lời kêu gọi của Người; chính Người đã hiệu triệu chúng ta và vì lý do này, chúng ta là dân của Người, là đoàn chiên của Người, Giáo hội của Người. Người đã tập hợp chúng ta lại đây để mặc dù chúng ta khác nhau và thuộc về các cộng đoàn khác nhau, nhưng tình yêu vĩ đại của Người đã mang tất cả chúng ta lại với nhau trong một vòng tay duy nhất. Thật là tốt đẹp khi chúng ta gặp gỡ nhau: các Giám mục và linh mục, tu sĩ và giáo dân; và thật đẹp khi được chia sẻ niềm vui này cùng với các phái đoàn đại kết, những vị đứng đầu cộng đồng Do Thái, đại diện các tổ chức dân sự và ngoại giao đoàn. Đây là tính công giáo: tất cả chúng ta, được Vị Mục Tử Nhân Lành gọi đích danh, được mời gọi chào đón và truyền bá tình yêu của Người, để làm cho đoàn chiên của Người bao trọn tất cả chứ không bao giờ loại trừ. Và, do đó, tất cả chúng ta được mời gọi vun trồng các mối quan hệ huynh đệ và cộng tác, không chia rẽ, không coi cộng đồng của mình như một môi trường dành riêng, không bị cuốn vào mối bận tâm bảo vệ không gian riêng của mỗi người, nhưng mở lòng ra để yêu thương nhau.
Đi ra thế giới
Sau khi đã gọi chiên, Mục Tử “dẫn chúng ra” (Ga 10:3). Đầu tiên, Người mời họ vào đàn bằng cách gọi họ, bây giờ Người thúc họ ra. Trước hết chúng ta được quy tụ vào gia đình Thiên Chúa để trở thành dân của Người, nhưng sau đó chúng ta được sai đi vào thế giới để, với lòng can đảm và không sợ hãi, chúng ta trở thành những người loan báo Tin Mừng, những chứng nhân của Tình Yêu đã tái sinh chúng ta. Chúng ta có thể nắm bắt chuyển động kép này – bước vào và đi ra - từ một hình ảnh khác mà Chúa Giêsu sử dụng: hình ảnh cánh cửa. Người nói: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ đi ra và gặp được đồng cỏ.” (c. 9). Chúng ta hãy lắng nghe kỹ điều này: sẽ vào và sẽ ra. Một đàng, Chúa Giêsu là cánh cửa đã mở rộng cho chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha và cảm nghiệm được lòng thương xót của Người; nhưng, như mọi người đều biết, một cánh cửa không chỉ được sử dụng để vào mà còn để rời khỏi nơi người ấy đang ở. Và rồi, sau khi đã đưa chúng ta trở lại trong vòng tay của Thiên Chúa và trong đàn chiên của Giáo hội, Chúa Giêsu là cánh cửa để đưa chúng ta ra thế giới: Người thúc đẩy chúng ta ra đi để gặp gỡ anh chị em của mình. Và chúng ta hãy nhớ kỹ điều đó: tất cả mọi người, không trừ một ai, đều được mời gọi về điều này, bước ra khỏi sự thoải mái của chúng ta và có can đảm để đi đến mọi vùng ngoại vi cần đến ánh sáng của Tin Mừng (x. Tông huấn Evangelii gaudium, 20).
Anh chị em thân mến, “đi ra” có nghĩa là mỗi người chúng ta trở thành, giống như Chúa Giêsu, một cánh cửa rộng mở. Thật buồn và xấu khi nhìn thấy những cánh cửa đóng lại: cánh cửa khép kín của sự ích kỷ của chúng ta đối với những người đi bên cạnh chúng ta hàng ngày; những cánh cửa đóng kín của chủ nghĩa cá nhân của chúng ta trong một xã hội có nguy cơ teo tóp lại trong cô độc; những cánh cửa đóng kín của sự thờ ơ của chúng ta đối với những người đau khổ và nghèo đói; những cánh cửa đóng lại đối với những người xa lạ, khác biệt, di cư, nghèo khổ. Và ngay cả những cánh cửa đóng kín của các cộng đoàn giáo hội của chúng ta: đóng cửa giữa chúng ta, đóng cửa đối với thế giới, đóng cửa đối với những người “không theo khuôn phép”, đóng cửa đối với những người mong mỏi sự tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta cũng hãy cố gắng nên giống Chúa Giêsu – bằng lời nói, cử chỉ, hoạt động hàng ngày – trở nên một cánh cửa luôn mở rộng, một cánh cửa không bao giờ bị đóng sầm trước mắt bất kỳ ai, một cánh cửa cho phép mọi người bước vào và cảm nghiệm vẻ đẹp của tình yêu và sự tha thứ từ Chúa.
Tôi lặp lại điều này trước hết với chính mình, với các anh em Giám mục và linh mục của tôi: với các mục tử chúng tôi. Bởi vì Chúa Giêsu nói, mục tử không phải là kẻ trộm kẻ cướp (x. Ga 10:8); nghĩa là mục tử không lợi dụng vai trò của mình, không áp bức đoàn chiên được trao phó cho mình, không “ăn cắp” không gian của anh chị em giáo dân, không thi hành quyền bính một cách cứng nhắc. Chúng ta hãy tự khuyến khích mình trở nên những cánh cửa ngày càng rộng mở hơn: “những trợ tá” của ân sủng của Thiên Chúa, những chuyên gia về sự gần gũi, sẵn sàng hiến dâng mạng sống, giống như Chúa Giêsu Kitô, là Chúa và là tất cả của chúng ta, đang dạy chúng ta với vòng tay dang rộng từ ngai toà thánh giá và tỏ cho chúng ta thấy mỗi lần trên bàn thờ, Tấm Bánh bẻ ra cho chúng ta. Tôi cũng nói điều này với các anh chị em giáo dân, với các giáo lý viên, với những người làm mục vụ, với những người có trách nhiệm chính trị và xã hội, với những người chỉ đơn thuần tiếp tục cuộc sống hàng ngày của họ, đôi khi gặp khó khăn: hãy mở rộng cửa. Chúng ta hãy để cho Chúa của sự sống đi vào tâm hồn chúng ta, để Lời của Người an ủi và chữa lành, rồi đi ra, và chính chúng ta trở thành những cánh cửa mở trong xã hội. Hãy mở ra và hòa nhập với nhau, để giúp Hungary phát triển trong tình huynh đệ, con đường dẫn đến hòa bình.
Ngỏ lời với tín hữu Hungary
Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành gọi đích danh chúng ta và chăm sóc chúng ta với sự dịu dàng vô biên. Người là cửa và ai đi qua Người thì được sự sống đời đời: vì thế Người là tương lai của chúng ta, một tương lai của “sự sống sung mãn” (Ga 10,10). Vì thế, chúng ta đừng bao giờ nản lòng, đừng bao giờ để mình bị cướp mất niềm vui và sự bình an mà Người đã ban cho chúng ta, đừng rút lui vào những vấn đề hay sự thờ ơ. Chúng ta hãy để mình được đồng hành với Vị Mục Tử của chúng ta: cùng với Người, xin cho cuộc sống của chúng ta, gia đình của chúng ta, các cộng đoàn Kitô hữu của chúng ta và toàn thể đất nước Hungary bừng sáng một sức sống mới!
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (03/5/2020) - Phân định tiếng Chúa và tiếng ma quỷ
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Chúa nhật IV Phục sinh chúng ta cử hành hôm nay nói về Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Tin Mừng nói: “Các chiên nghe tiếng Ngài: Ngài gọi đích danh các con chiên” (Ga 10,3). Chúa gọi chúng ta đích danh, Chúa gọi vì Chúa yêu thương chúng ta. Vì thế, Tin mừng cũng nói, có những tiếng nói khác không nên theo: tiếng nói của những kẻ xa lạ, những kẻ trộm cướp muốn gây hại cho các con chiên.
Những tiếng nói khác ấy âm vang trong chúng ta. Có tiếng nói của Thiên Chúa, nói với lương tâm chúng ta một cách tế nhị, và có tiếng nói cám dỗ dẫn đến sự ác. Làm thế nào để nhận ra tiếng nói của Mục Tử Nhân Lành khác với tiếng nói của kẻ trộm, làm thế nào phân biệt linh hứng của Thiên Chúa với sự xúi giục của ma quỷ? Ta có thể học phân biệt hai tiếng nói ấy.
Thực vậy, các tiếng ấy nói hai ngôn ngữ khác nhau, nghĩa là có những cách thức đối nghịch để gõ cửa tâm hồn chúng ta. Tiếng nói của Thiên Chúa không bao giờ ép buộc: Thiên Chúa đề nghị, chứ không áp đặt. Trái lại, tiếng nói xấu xa quyến rũ, tấn công, ép buộc: nó gợi lên những ảo tưởng chóa mắt, những cảm xúc quyến rũ, nhưng chóng qua. Ban đầu tiếng nói ấy nịnh nọt, làm cho chúng ta tưởng mình là toàn năng, nhưng rồi nó để cho chúng ta bị trống rỗng trong tâm hồn và cáo buộc chúng ta: “Mày chẳng có giá trị gì cả”. Trái lại, tiếng nói của Thiên Chúa sửa sai chúng ta, với tất cả sự kiên nhẫn, nhưng luôn luôn khích lệ, an ủi chúng ta: luôn luôn nuôi dưỡng hy vọng.
Có một sự khác biệt khác nữa. Tiếng nói của kẻ thù đưa ta ra khỏi hiện tại và muốn chúng ta tập trung vào những sợ hãi tương lai hoặc về những buồn sầu quá khứ: nó làm cho những cay đắng tái bùng lên, nhớ lại những thiệt hại đã chịu, nhớ đến kẻ đã gây hại cho chúng ta. Trái lại, tiếng Chúa nói về hiện tại: “Giờ đây con có thể làm điều thiện, giờ đây con có thể thực hiện sự sáng tạo của tình yêu, giờ đây con có thể từ bỏ những tiếc nuối và ray rứt cầm hãm tâm hồn con”. Tiếng Chúa truyền cảm hứng cho chúng ta, đưa dẫn chúng ta tiến về phía trước, nhưng tiếng Chúa lại nói trong hiện tại: bây giờ.
Ngoài ra, hai tiếng nói khơi lên trong chúng ta những câu hỏi khác nhau. Câu hỏi đến từ Thiên Chúa sẽ là: “Điều gì mang lại điều tốt cho tôi?”. Trái lại, tiếng nói của kẻ cám dỗ nhấn mạnh đến một câu hỏi khác: “Điều gì có lợi tôi nên làm?”. Điều gì có lợi cho tôi: tiếng nói xấu xa luôn xoay quanh cái tôi, những thúc đẩy của bản năng, những nhu cầu của nó, tất cả và ngay bây giờ. Trái lại, tiếng nói của Thiên Chúa không bao giờ hứa hẹn niềm vui rẻ tiền, nhưng mời gọi chúng ta đi xa hơn cái tôi của mình để tìm lại được thiện ích chân thực, tìm được an bình. Chúng ta hãy nhớ rằng: sự ác không bao giờ mang lại hòa bình, nó đặt sự cuồng nhiệt lên trước và để lại cay đắng sau đó. Đó là phong cách của sự dữ.
Sau cùng, tiếng nói của Thiên Chúa và tiếng nói của kẻ cám dỗ nói trong những “môi trường” khác nhau: kẻ thù ưa bóng tối, giả dối, những chuyện tầm phào, “ngồi lê đôi mách”; Chúa thì thích ánh sáng mặt trời, sự thật, minh bạch chân thành. Kẻ thù sẽ nói với chúng ta: “Hãy khép kín vào mình, bạn có làm gì đi nữa thì chẳng ai hiểu được và lắng nghe bạn, đừng tin tưởng!”. Trái lại, sự thiện mời gọi hãy cởi mở, trong sáng và tín thác nơi Thiên Chúa và nơi tha nhân.
Anh chị em thân mến, trong thời kỳ này, bao nhiêu tư tưởng và bận tâm đưa chúng ta trở về với chính mình. Chúng ta hãy tự hỏi xem những tư tưởng ấy từ đâu tới. Chúng ta hãy xin ơn nhận ra và đi theo tiếng nói của vị Mục Tử Nhân Lành. Ngài đưa chúng ta ra khỏi cái vòng ích kẻ và dẫn đưa chúng ta đến đồng cỏ của tự do chân chính. Xin Đức Mẹ là Mẹ Chỉ Bảo Đàng Lành, hướng dẫn và đồng hành với chúng ta trong sự phân định.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org (03.05.2020)
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (07/5/2017) - Chức linh mục là để phục vụ
Anh chị em thân mến,
Những người con em của chúng ta đây được mời gọi lãnh nhận thiên chức linh mục. Như anh chị em đều biết, Chúa Giêsu chính là vị Linh Mục Tối Cao của Giao Ước Mới, trong Người, tất cả dân thánh của Thiên Chúa đều được mời gọi tham dự vào chức tư tế chung. Tuy nhiên, trong số các môn đệ, Chúa Giêsu muốn chọn một số người cách đặc biệt, để họ lãnh nhận và thực thi chức linh mục thừa tác, vì lợi ích cho tất cả mọi người, và để tiếp nối sứ mạng của Thầy Chí Thánh, đó là sứ mạng vừa là tư tế vừa là mục tử. Họ được Chúa Giêsu mời gọi và tuyển chọn, không phải để gầy dựng sự nghiệp, nhưng là để phục vụ.
Thực vậy, chính Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian, và Chúa Giêsu đã lần lượt sai các Tông Đồ đi vào giữa lòng thế giới, tiếp đến là những đấng kế vị các Tông Đồ, đó là các Giám mục. Sau đó là những cộng tác viên của Giám mục, đó chính là các linh mục. Các linh mục được kêu gọi để phục vụ Dân Chúa.
Giờ đây chúng ta hãy phó dâng cho Chúa Kitô những người anh em sắp lãnh nhận chức linh mục, để họ trở thành người phục vụ Chúa Kitô, Đấng là Thầy, là Linh Mục và là Mục Tử; để họ xây dựng Thân Thể Chúa Kitô là Hội Thánh, là Dân Thiên Chúa và là Đền Thờ Chúa Thánh Thần.
Các tiến chức sẽ được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, Đấng là Thượng Tế Đời Đời. Các tiến chức sẽ được thánh hiến để trở thành linh mục của Giao Ước Mới, và được liên kết với Đức Giám mục bản quyền. Các tiến chức sẽ trở thành người công bố Tin Mừng, trở thành người mục tử của Dân Chúa, trở thành người thực thi các tác vụ thánh, đặc biệt là cử hành Lễ Hy Tế của Chúa.
Anh em thân mến, các con thân mến, các con sắp lãnh nhận chức vụ linh mục, các con sắp lãnh nhận sứ mạng của Chúa Kitô. Hãy nhận lấy Lời Chúa với tất cả niềm vui như trẻ thơ. Hãy chăm chú đọc và siêng năng suy niệm Lời Chúa, để các con tin những gì các con đọc, dạy những gì các con tin, và sống những gì các con dạy.
Các con hãy nuôi dưỡng Dân Chúa bằng giáo thuyết cách đơn sơ như Chúa đã nói, đó là nói những gì thực sự đến từ con tim. Bài giảng của các con đừng quá phức tạp và đừng nặng suy lý: các con hãy nói cách đơn sơ, lời nói hãy xuất phát từ cõi lòng. Giảng như thế sẽ thực sự giúp ích Dân Chúa. Niềm vui nâng đỡ các Kitô hữu cũng chính là đời sống tốt lành của các con. Bởi vì lời nói mà không có gương sáng đời sống đi kèm, thì chẳng thà không nói. Lối sống hai mặt là căn bệnh tồi tệ gây hại Giáo Hội.
Các con sẽ tiếp tục lễ hy sinh của Chúa Kitô. Qua tác vụ của các con, qua đôi tay các con, những hy sinh thiêng liêng của các tín hữu sẽ nên hoàn thiện, bởi lẽ những hy sinh ấy kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô, nhân danh toàn thể Hội Thánh, và được cử thành trên bàn thờ trong mầu nhiệm thánh.
Bây giờ các con đã biết điều phải làm. Đó là noi gương chính những gì các con cử hành, đó là tham dự vào mầu nhiệm cái chết và sự phục sinh của Chúa, để chết đi tội lỗi của bản thân và để bước đi với Chúa trong sự sống mới. Nếu một linh mục học nhiều về thần học và có nhiều bằng cấp, mà chưa học vác Thập giá Chúa Kitô, thì chưa phải là phục vụ. Người đó có thể là một học giả tốt, có thể là một giáo sư tốt, nhưng người ấy không phải là một linh mục.
Trong Bí tích Rửa Tội, chúng ta đã trở thành con người mới trong Dân Chúa. Trong Bí tích Hòa Giải, chúng ta được tha tội nhân danh Chúa Kitô và Hội Thánh. Chúng ta hãy không ngừng nài xin lòng thương xót nhân danh Chúa Kitô và Hội Thánh, hãy làm điều này luôn mãi. Đừng chất gánh nặng lên vai các tín hữu, những gánh mà ngay cả chúng ta cũng không vác nổi, đừng làm như thế. Chúa Giêsu đã trách mắng những nhà thông luật là kẻ đạo đức giả. Với dầu thánh trong Bí tích sức dầu bệnh nhân, các con hãy thăm viếng người bệnh, cho dù việc này nhiều khi khó khăn và có thể khó chịu. Các con đừng ngại chạm đến người bệnh, vì đó chính là chạm đến Chúa Kitô hiện diện nơi họ, và khi làm như thế các con cũng trở nên gần gũi hơn với Chúa Kitô. Bằng việc cử hành những tác vụ thánh thiêng trong những khoảnh khắc khác nhau của ngày sống, các con hãy dâng lên Chúa, những lời ngợi khen, lời khẩn cầu của Dân Chúa và toàn thể nhân loại.
Các con hãy biết rằng mình được chọn giữa bao người và dân Chúa đang mong đợi bao điều đến từ Thiên Chúa. Các con hãy thực thi chức linh mục của Chúa Kitô trong tình bác ái và niềm vui chân thành. Hãy vui tươi, đừng bao giờ buồn. Vui lên các con. Hãy vui niềm vui phục vụ của Chúa Kitô, cho dù giữa những đau khổ, hiểu lầm và ngay cả tội lỗi. Các con hãy luôn nhìn vào gương mẫu của Đấng là Mục Tử Nhân Lành, Đấng đã đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ. Các con thân mến, các con làm ơn đừng trở thành những “quý ông”, cũng đừng trở thành những “giáo sĩ kiểu công chức”; nhưng các con hãy trở thành người mục tử, những mục tử của Dân Chúa.
Nguồn: archivioradiovaticana.va (07.05.2017)
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (07/5/2017) - Cảm nghiệm tiếng nói của Đức Kitô Mục Tử
Anh chị em thân mến,
Trong bài Tin Mừng Chúa nhật Chúa Chiên Lành hôm nay (Ga 10:1-11), Chúa Giêsu nói với chúng ta hai hình ảnh bổ túc cho nhau. Hình ảnh người mục tử và hình ảnh cửa ràn chiên.
Ràn chiên là tất cả chúng ta. Để bảo vệ ràn chiên thì có một cái cửa. Ở cửa đó có người canh gác. Có nhiều hạng người đến với ràn chiên. Có người đi qua cửa mà vào ràn chiên. Đó là người mục tử. Có kẻ không vào ràn chiên bằng cửa mà lại đi theo lối khác. Đó là kẻ lạ, là kẻ không yêu mến ràn chiên, nhưng đến với ràn chiên vì trục lợi. Chúa Giêsu nói rằng, Chúa chính là mục tử, là người thân thiết với chiên, là người gọi tên từng con chiên và chiên nhận ra tiếng của Người. Người dẫn chiên tới đồng cỏ xanh tươi.
Hình ảnh thứ hai là cửa ràn chiên. Chúa Giêsu nói Người chính là cái cửa. Chúa nói: Ta là cửa và ai qua cửa mà vào, thì được cứu rỗi, tìm được sự sống và sống dồi dào. Chúa Kitô là Mục Tử Nhân Lành, là cánh cửa cứu rỗi cho nhân loại, vì Người đã hiến dâng mạng sống mình vì đoàn chiên.
Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, là cửa ràn chiên, là một thủ lãnh có thẩm quyền được diễn tả trong việc phục vụ, là Đấng trao ban sự sống mà không đòi người khác phải hy sinh. Người là vị lãnh đạo mà bạn có thể tin tưởng, giống như những con chiên có thể nhận ra tiếng nói của mục tử, vì con chiên biết rằng, người mục tử sẽ dẫn dắt chiên đến đồng cỏ xanh tươi. Chỉ cần một dấu hiệu, một tiếng gọi, và đàn chiên đi theo, vâng nghe, bước đi trong tiếng nói đầy thân thiện, mạnh mẽ và dịu ngọt, để rồi đàn chiên được chỉ dẫn, được bảo vệ, được an ủi, được chữa lành.
Thế đó, Chúa Kitô đã làm những điều ấy cho chúng ta. Có một nét trong kinh nghiệm đời sống người Kitô mà chúng ta có lẽ dễ quên. Đó là nét cảm nhận thiêng liêng. Chúng ta cảm thấy mình được liên kết đặc biệt với Chúa giống như con chiên với người mục tử. Đôi khi chúng ta quá nặng suy lý trong đời sống đức tin, và làm cho mình khó có thể nghe được tiếng nói của người mục tử nhân lành, Chúa lên tiếng nói và vẫn đang nói. Điều ấy xảy ra cho hai môn đệ trên đường Emmau. Tâm hồn họ đã bừng cháy khi Đấng Phục Sinh đồng hành với họ. Các bạn hãy tự hỏi rằng: “Tôi có cảm thấy mình được Chúa Giêsu yêu mến không?” Bởi vì Chúa Giêsu không bao giờ là người xa lạ, nhưng luôn là người bạn và người anh em. Thế nhưng, không phải lúc nào cũng có thể dễ nhận ra tiếng nói của người mục tử. Hãy cẩn thận. Vì chúng ta luôn bị chia trí và phân tâm bởi biết bao tiếng nói khác nhau. Hôm nay chúng ta được mời gọi tách mình khỏi những thứ khôn ngoan giả dối của thế gian, để bước theo Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh, Đấng duy nhất hướng dẫn và trao tặng ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta.
Nhân Ngày quốc tế cầu nguyện cho Ơn gọi, đặc biệt là Ơn gọi linh mục, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta những mục tử nhân lành. Xin Mẹ Maria chuyển cầu cho chúng ta. Xin Mẹ cùng đồng hành với 10 tân linh mục chịu chức hôm nay. Trong số 10 cha mới, có 4 cha thuộc giáo phận Roma. Cha muốn rằng 4 cha ấy sẽ cùng với Cha chúc lành trong giây phút này. Xin Mẹ Maria nâng đỡ để các cha mới luôn sẵn sàng và quảng đại đi theo tiếng Chúa gọi mời.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org (07.05.2017)
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (11/5/2014) - Linh mục tiếp tục sứ mạng của Đức Kitô
(Thánh lễ phong chức linh mục)
Anh em rất thân mến,
Những người con và anh em của chúng ta đây được kêu gọi lên thiên chức linh mục. Như anh em biết, Chúa Giêsu là vị Thượng tế duy nhất của Giao ước mới; nhưng trong Người, Thiên Chúa đã làm cho toàn thể dân thánh trở thành hàng tư tế vương giả. Tuy nhiên, giữa các môn đệ của mình, Chúa Giêsu muốn tuyển chọn một số người để công khai thi hành chức tư tế thừa tác trong Giáo hội, nhân danh Người và thay mặt cho nhân loại, hầu tiếp tục chính sứ mạng của Người là Thầy dạy, Tư tế và Mục tử.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, chúng ta sắp đưa những anh em này lên hàng linh mục, để qua việc phục vụ Đức Kitô là Thầy dạy, Tư tế và Mục tử, họ cộng tác vào việc xây dựng Thân thể Đức Kitô là Giáo hội, làm cho Giáo hội trở thành Dân Thiên Chúa và đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Thật vậy, khi được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, vị Thượng tế đời đời, và được kết hợp với chức tư tế của giám mục mình, họ sẽ được thánh hiến thành những tư tế đích thực của Giao ước mới để rao giảng Tin mừng, chăn dắt dân Chúa, chủ sự việc phụng tự, và đặc biệt là cử hành Hy tế của Chúa.
Còn anh em, những người con và anh em rất thân mến,
Anh em sắp được nâng lên hàng linh mục, hãy nhớ rằng khi thi hành thừa tác vụ giảng dạy, anh em được chia sẻ sứ mạng của Đức Kitô là Thầy dạy duy nhất. Hãy trao ban cho mọi người Lời mà anh em đã lãnh nhận từ cha mẹ và các giáo lý viên. Hãy chuyên cần đọc và suy niệm Lời Chúa, để tin điều anh em đọc, dạy điều anh em tin, và sống điều anh em dạy. Ước gì dân Chúa được nuôi dưỡng bằng giáo huấn của anh em, giáo huấn ấy không phải là của chính anh em vì anh em không phải là chủ! Đó là giáo huấn của Chúa, và anh em phải trung thành với giáo huấn ấy!
Nhờ đó, điều anh em giảng dạy sẽ trở nên lương thực nuôi dưỡng dân Chúa. Ước chi hương thơm đời sống anh em mang lại niềm vui và nâng đỡ cho các tín hữu của Đức Kitô, để bằng lời nói và gương sáng, anh em xây dựng nhà của Thiên Chúa là Giáo hội.
Cũng vậy, anh em sẽ tiếp tục công việc thánh hóa của Đức Kitô. Nhờ thừa tác vụ của anh em trong việc cử hành các mầu nhiệm thánh, của lễ thiêng liêng của các tín hữu được hoàn thiện khi kết hợp với Hy tế của Đức Kitô, được dâng tiến qua tay anh em nhân danh toàn thể Giáo hội theo cách không đổ máu trên bàn thờ.
Vì thế, hãy hiểu điều anh em làm và noi theo điều anh em cử hành, để khi tham dự vào mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Chúa, anh em mang trong mình cái chết của Đức Kitô và bước đi với Người trong đời sống mới.
Nhờ Bí tích Rửa tội, anh em quy tụ các tín hữu mới vào Dân Thiên Chúa; nhờ Bí tích Hòa giải, anh em tha tội nhân danh Đức Kitô và Giáo hội. Và ở đây, tôi muốn dừng lại để xin anh em, vì tình yêu Đức Giêsu Kitô: đừng bao giờ mệt mỏi trong việc xót thương! Xin anh em! Hãy có khả năng tha thứ như Chúa đã tha thứ, Đấng đến không phải để kết án nhưng để thứ tha! Hãy thật quảng đại trong lòng thương xót! Và nếu anh em cảm thấy lấn cấn vì đã “tha quá nhiều”, hãy nhớ đến vị linh mục thánh thiện mà tôi đã kể, người đã đến trước Nhà Tạm và thưa: “Lạy Chúa, xin tha cho con nếu con đã tha quá nhiều, nhưng chính Chúa đã nêu gương xấu cho con!” Tôi nói thật với anh em: tôi rất đau lòng khi gặp những người không còn đi xưng tội nữa vì họ đã bị la mắng và bị quở trách nặng nề. Họ cảm thấy như cửa nhà thờ đóng lại trước mặt họ! Xin đừng làm như vậy: lòng thương xót, lòng thương xót! Mục Tử Nhân Lành đi qua cửa, và cửa của lòng thương xót chính là các thương tích của Chúa: nếu anh em không bước vào thừa tác vụ bằng các thương tích của Chúa, anh em không phải là những mục tử tốt lành.
Với dầu thánh, anh em sẽ an ủi bệnh nhân; khi cử hành các nghi thức và dâng lời ca tụng cũng như cầu xin vào những giờ khác nhau trong ngày, anh em trở nên tiếng của dân Thiên Chúa và của toàn thể nhân loại.
Hãy nhớ rằng anh em được tuyển chọn từ giữa loài người và được đặt làm đại diện cho họ trong những việc thuộc về Thiên Chúa, hãy thi hành thừa tác vụ linh mục của Đức Kitô với niềm vui và tình yêu chân thành, chỉ nhằm làm đẹp lòng Thiên Chúa chứ không phải chính mình.
Và hãy nhớ điều Thánh Augustinô đã nói về những mục tử tìm cách làm hài lòng chính mình, dùng chiên của Chúa để nuôi sống và phục vụ bản thân, khoác lên mình vẻ uy nghi của một thừa tác vụ mà họ không biết có thật sự đến từ Thiên Chúa hay không. Sau cùng, khi tham dự vào sứ mạng của Đức Kitô là Đầu và là Mục Tử, trong sự hiệp thông con thảo với giám mục của mình, anh em hãy cố gắng quy tụ các tín hữu thành một gia đình duy nhất để dẫn họ đến với Thiên Chúa là Cha, nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Hãy luôn đặt trước mặt anh em gương của Mục Tử Nhân Lành, Đấng đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, và để tìm kiếm cũng như cứu vớt những gì đã hư mất.
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục snh năm A (11/5/2014) - Hãy quấy rầy các chủ chăn
Anh chi em thân mến, trong Chúa Nhật thứ IV mùa phục sinh thánh Gioan giới thiệu với chúng ta hình ảnh của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Khi chiêm ngưỡng trang này của Phúc Âm, chúng ta có thể hiểu kiểu tương quan mà Chúa Giêsu có đối với các môn đệ Người: một tương quan dựa trên lòng hiền dịu, tình yêu thương, hiểu biết nhau và dựa trên lời hứa của một ơn không thể đo lường được: lời hứa ban cuộc sống dồi dào. Chúa Giêsu nói: “Ta đến để chúng có sự sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tương quan đó là mô thức của các liên hệ giữa các kitô hữu và liên hệ giữa con người với nhau.
Ngày nay cũng như vào thời của Chúa Giêsu, có nhiều người tự đề nghị mình là chủ chăn của cuộc sống chúng ta, nhưng chỉ có Chúa Phục Sinh là Mục Tử đích thật duy nhất, là Đấng ban cho chúng ta sự sống tràn đầy. Tôi mời gọi tất cả mọi người tin tưởng nơi Chúa là Đấng hướng dẫn chúng ta. Người không chỉ hướng dẫn mà còn đồng hành và tiến bước với chúng ta nữa. Chúng ta hãy lắng nghe Lời Người với tâm trí rộng mở, để dưỡng nuôi đức tin của chúng ta, để soi sáng lương tâm chúng ta và đi theo các giáo huấn của Tin Mừng. Rồi Đức Thánh Cha xin tín hữu cầu nguyện cho hàng giáo sĩ như sau:
Trong ngày Chúa Nhật này chúng ta hãy cầu nguyện cho các Chủ Chăn, cho tất cả các Giám Mục, gồm cả Giám Mục Roma nữa, và cho tất cả các linh mục. Cho tất cả! Cách đặc biệt chúng ta hãy cầu nguyện cho các tân linh mục của giáo phận Roma, mà tôi vừa mới truyền chức cho trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Xin gửi một lời chào tới 13 linh mục. Xin Chúa giúp chúng ta luôn trung thành với Thầy Giêsu và là những người hướng đạo khôn ngoan, được soi sáng của dân Chúa được ủy thác cho chúng ta. Tôi cũng xin anh chị em giúp chúng tôi trở thành các mục tử tốt. Có một lần tôi đã đọc được một điều rất hay đẹp cho biết dân Chúa trợ giúp các Giám Mục và các Linh Mục thành các chủ chăn tốt như thế nào. Đó là bút tích của thánh Cesario thành Arles, một trong các Giáo Phụ thuộc các thế kỷ đầu của Giáo Hội. Thánh nhân giải thích dân Chúa phải giúp chủ chăn như thế nào và đưa ra thí dụ này: “Khi con bê đói, thì nó sà vào vú mẹ nó để bú. Nhưng con bò cái xem ra không cho con bú ngay, mà giữ sữa lại cho chính mình. Vậy con bê làm sao? Nó cứ dí mõm vào vú mẹ nó để núm sữa. Đây là hình ảnh thật đẹp! Thánh nhân nói: Anh chị em cũng phải làm như vậy với các chủ chăn, luôn luôn gõ vào cửa của các ngài, gõ vào con tim của các ngài, để các ngài cho anh chị em sữa giáo lý, sữa ơn thánh và sữa của sự hướng dẫn”. Tôi xin anh chị em hãy quấy rầy các chủ chăn, quầy rầy tất cả chúng tôi là các chủ chăn, để chúng tôi có thể cho anh chị em sữa của ơn thánh, của giáo lý và sự hướng dẫn. Hãy quấy rầy! Hãy nhớ tới hình ảnh đẹp này của con bê con quấy rầy mẹ nó thế nào để mẹ nó cho nó bú sữa.
Noi gương Chúa Giêsu mỗi chủ chăn “đôi khi đi trước để chỉ đường và nâng đỡ niềm hy vọng của dân chúng - đôi lần mục tử phải đi trước - những lần khác phải ở giữa tất cả với sự gần gũi đơn sơ và lòng thương xót, và trong vài hoàn cảnh phải bước đi đàng sau dân chúng, để trợ giúp những ai ở lại đàng sau” (Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, 31) Ước chi tất cả mọi chủ chăn được như thế! Nhưng anh chị em phải quầy rầy các chủ chăn, để các vị trao ban sự hướng dẫn, giáo lý và ơn thánh cho anh chị em.
Trong Chúa Nhật Ngày quốc tế cầu nguyện cho ơn gọi này, trong sứ điệp năm nay tôi đã nhắc rằng: “Mỗi một ơn gọi đòi hỏi phải ra khỏi chính mình để tập trung cuộc sống vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người” (s. 2). Vì thế lời mời gọi theo Chúa Giêsu cũng đồng thời hứng khởi và dấn thân. Để thực hiện nó, cần phải bước sâu vào tình bạn với Chúa để có thể sống nhờ Người và cho Người.
Chúng ta hãy cầu nguyện để cả ngày nay nữa, có nhiều người trẻ nghe tiếng Chúa luôn có nguy cơ bị bóp nghẹt bởi biết bao nhiêu tiếng nói khác. Chúng ta hãy cầu nguyện cho giới trẻ: biết đâu trong quảng trường này có ai đó nghe tiếng Chúa gọi làm linh mục. Chúng ta hãy cầu nguyện cho bạn trẻ đó, nếu họ ở đây, và cho tất cả mọi người trẻ được mời gọi.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org (11.05.2014)
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (15/5/2011) - Đặt mình trong ý định của Thiên Chúa
Anh chị em thân mến,
Phụng vụ Chúa nhật thứ Tư mùa Phục sinh giới thiệu cho chúng ta một trong những hình ảnh đẹp nhất đã được phác hoạ trong Giáo hội từ những thế kỷ đầu tiên, đó là hình ảnh người Mục tử nhân lành. Tin mừng thánh Gio-an chương thứ mười mô tả những đường nét đặc biệt về tương quan giữa Chúa Ki-tô Mục tử với đàn chiên của Người; một mối tương quan chặt chẽ đến nỗi chẳng có ai có thể cướp mất đàn chiên từ tay Người. Quả thế, đàn chiên gắn kết với Người bằng mối dây tình yêu và hiểu biết lẫn nhau, mối dây bảo đảm cho họ quà tặng không gì sánh được là cuộc sống vĩnh cửu. Thái độ của đàn chiên đối với vị Mục tử nhân lành được tác giả tin mừng mô tả ngang qua hai động từ đặc thù: lắng nghe và bước theo. Những từ này nói lên những đặc tính căn bản của những ai theo Chúa. Trước tiên là lắng nghe Lời của Người, nơi đó đức tin được sinh ra và lớn lên. Chỉ những ai để tâm đến tiếng Chúa mới có thể nhận định và đưa ra những lựa chọn đúng đắn hầu hành xử theo ý Chúa. Từ việc lắng nghe sẽ dẫn đến bước theo Chúa Giê-su: các môn đệ sau khi đã lắng nghe tiếng Chúa, đã lắng nghe các lời dạy của Thầy cách thâm sâu hầu để sống trong đời sống thường ngày.
Nhìn ngắm chân dung vị Mục tử nhân lành nhắc nhớ chúng ta về những Vị mục tử trong Giáo hội và những ai đang trong thời gian huấn luyện để trở thành Mục tử. Vì thế tôi mời gọi anh chị em cầu nguyện cách đặc biệt cho các Giám mục, kể cả Giám mục Rô-ma nữa! - cho các Cha xứ, cho tất cả những ai có trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên Chúa để họ trung thành và sáng suốt chu toàn bổn phận của mình. Cách đặc biệt, chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi linh mục trong Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu này để không bao giờ thiếu những người cử hành thánh lễ của Chúa. Đã 70 năm kể từ ngày Đức Piô XII thành lập Tổ chức Giáo hoàng về cổ võ ơn gọi linh mục. Trực giác của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã dựa trên mong ước rằng ơn gọi lớn lên và trưởng trành trong Giáo hội và đặc biệt từ bối cảnh gia đình tốt lành và được củng cố trong đức tin, bác ái và nhân ái. Trong thông điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu, tôi đã nhấn mạnh rằng một ơn gọi được hình thành khi một người ra khỏi "ý hướng khép kín và tự tôn của mình để đặt mình trong một ý định khác, ý định của Thiên Chúa và để Ngài dẫn dắt mình". Trong thời đại hôm nay, nơi mà tiếng Chúa có nguy cơ bị lấn át bởi nhiều tiếng khác, mỗi công đoàn giáo hội được mời gọi để cổ võ và chăm lo ơn gọi lịnh mục và đời sống thánh hiến. Con người thực sự luôn cần đến Thiên Chúa, ngay cả trong thế giới kỹ thuật, và sẽ luôn cần đến Người mục tử để công bố Lời Chúa và giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa ngang qua các Bí tích.
Anh chị em thân mến, được tăng sức nhờ vào niềm vui phục sinh và tin tưởng vào Đấng Phục sinh, chúng ta phó thác tất cả những dự định và lo toan cho Mẹ Maria Vô Nhiễm, mẹ của từng ơn gọi để nhờ lời chuyển cầu của Người, ngày càng có thêm nhiều ơn gọi thánh thiện phục vụ Giáo hội và thế giới.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org (15.05.2011)
Đức Bênêđictô XVI, Chúa nhật 4 Phục sinh năm A (13/4/2008) - Ơn gọi và sứ vụ
Anh chị em thân mến,
Chúa nhật thứ Bốn Phục sinh, với bài Tin mừng trình bày Chúa Giêsu mục tử nhân lành, được dành làm ngày thế giới cầu nguyện cho các ơn kêu gọi. Trong hết mọi lục địa, các giáo đoàn đồng tâm cầu khẩn Thiên Chúa ban cho nhiều ơn gọi thánh thiện vào hàng linh mục, vào đời thánh hiến và thừa sai, vào bậc hôn nhân, đồng thời cùng nhau suy niệm về đề tài “những ơn gọi phục vụ Hội thánh thừa sai”. Năm nay, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu được lồng trong bối cảnh của “Năm thánh Phaolô” sẽ bắt đầu vào ngày 28 tháng 6 sắp đến, để mừng 2000 năm sinh nhật của thánh tông đồ Phaolô, một vị thừa sai ngoại hạng.
Qua kinh nghiệm của vị Tông đồ của chư dân, được Chúa kêu gọi làm kẻ phục vụ Tin mừng, ta thấy ơn gọi và sứ vụ không thể tách rời nhau. Vì thế thánh Phaolô tượng trưng một khuôn mẫu cho tất cả các Kitô hữu, cách riêng là cho các nhà thừa sai suốt đời, nghĩa là những người nam nữ hiến trọn cuộc đời để loan báo Chúa Kitô cho những người chưa biết Chúa: một ơn gọi vẫn còn giá trị vào ngày hôm nay. Tác vụ này được thi hành trước hết là bởi các linh mục, qua việc phân phát Lời Chúa và các Bí tích, và qua lòng thương yêu mục tử dành cho hết mọi người, nhất là những người bệnh tật, bé nhỏ, nghèo túng, các ngài bày tỏ sự hiện diện của Chúa Kitô chữa lành hết mọi người. Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì những người anh em của chúng ta đã sả thân cho chức vụ mục tử, và đôi khi đã niêm ấn cho lòng trung thành với Chúa Kitô bằng mạng sống, như vừa mới xảy ra hôm qua cho hai tu sĩ bị giết bên Guinea và Kenya. Chúng ta hãy bày tỏ lòng khâm phục đối với các ngài, cùng với lời cầu nguyện cho các ngài. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện xin gia tăng thêm đoàn ngũ những người quyết tâm sống triệt để Tin mừng qua các lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục: đó là những người nam nữ giữ vai trò tiên phong trong công cuộc loan báo Tin mừng. Trong số các tu sĩ, có những người dấn thân vào việc chiêm ngắm và cầu nguyện, những người khác dấn thân vào những hình thức đa dạng của công tác giáo dục và bác ái. Nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu, đó là chứng tỏ vị trí tối thượng của Thiên Chúa lên trên tất cả và quảng bá Nước Chúa vào hết mọi lãnh vực xã hội. Như đức Phaolô VI đã viết, nhiều tu sĩ làm việc rất hăng say, và nhiều sáng khởi đáng phục. Họ rất quảng đại, họ đứng ở đầu các biên cương truyền giáo, và lãnh lấy nhiều rủi ro cho sức khoẻ và tính mạng (Tông huấn Loan báo Tin mừng số 69). Sau cùng không nên quên rằng các đôi vợ chồng Kitô hữu cũng mang ơn gọi truyền giáo: thực vậy, các đôi bạn được kêu gọi hãy sống Tin mừng trong các gia đình, các môi trường làm việc, trong các cộng đoàn của Giáo hội và xã hội. Ngoài ra, trong vài trường hợp, họ đã cộng tác đắc lực vào công cuộc truyền giáo cho dân ngoại.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy van nài Mẹ Maria che chở các ơn gọi muôn hình ở trong Giáo hội, ngõ hầu chúng được mang đậm dấu tích truyền giáo. Tôi xin ký thác cho Mẹ, là Thân mẫu của Giáo hội và Nữ vương Hoà bình, cảm nghiệm truyền giáo mà tôi sẽ sống vào những ngày sắp đến với chuyến tông du sang Hoa kỳ và viếng thăm Liên Hợp quốc. Tôi cũng xin anh chị em hãy tháp tùng tôi với lời cầu nguyện.
Nguồn: vietnamese.rvasia.org (13.04.2008)
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Ðức Giêsu chính là vị Mục Tử nhân lành luôn yêu thương và quan tâm dẫn dắt đoàn chiên của mình. Chúa nói rằng Ngài là cửa chuồng chiên. Chuồng chiên chính là Giáo Hội được bảo vệ bằng các giới răn của Chúa. Ai trung thành nghe tuân giữ và liên kết với Ngài thì được vào Nước Trời. Nghĩa là được đến cùng Thiên Chúa Cha, nguồn mạch sự sống và hạnh phúc trường sinh.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chúng con như chiên lạc, lang thang bơ vơ đói khổ, vì thiếu dòng suối mát, vì thiếu đồng cỏ xanh, vì thiếu vị mục tử chân chính. Xin Chúa đến hướng dẫn, dìu dắt chúng con về nước tình yêu của Chúa. Vì chính Chúa là cửa an toàn, vì chính Chúa là vị mục tử nhân hiền. Chỉ trong Chúa, chúng con mới được nghỉ ngơi yên hàn. Amen.
Ghi nhớ : “Ta là cửa chuồng chiên”.
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Cv 2,14a.36-41
Thiên Chúa đã đặt Đức Giê-su làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
14a Trong ngày lễ Ngũ Tuần, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với dân chúng rằng : 36 “Toàn thể nhà Ít-ra-en phải biết chắc điều này : Đức Giê-su mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô.”
37 Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác : “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì ?” 38 Ông Phê-rô đáp : “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội ; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. 39 Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi.” 40 Ông Phê-rô còn dùng nhiều lời khác để long trọng làm chứng và khuyên nhủ họ. Ông nói : “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ.” 41 Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 (Đ. c.1)
Đ. Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Hoặc :
Đ. Ha-lê-lui-a.
1 Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi,
tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi,
Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi. Đ.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u,
con sợ gì nguy khốn,
vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ,
con vững dạ an tâm. Đ.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa. Đ.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên. Đ.
Bài đọc 2 : 1 Pr 2,20b-25
Anh em đã quay về với Vị Mục Tử, Ðấng chăm sóc linh hồn anh em.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
20 Anh em thân mến, nếu làm việc lành và phải khổ mà anh em vẫn kiên tâm chịu đựng, thì đó là ơn Thiên Chúa ban. 21 Anh em được Thiên Chúa gọi để sống như thế. Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. 22 Người không hề phạm tội ; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. 23 Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng. 24 Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành. 25 Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Ga 10,14
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.” Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Ga 10,1-10
Tôi là cửa cho chiên ra vào.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.
7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Trong bài Tin Mừng Chúa nhật 4 Phục Sinh, Đức Giê-su dùng hình ảnh cửa ràn chiên và mục tử : “Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử, người chăn dắt đàn chiên.” Đức Giê-su nói khi tiếp tục sử dụng hình ảnh này : “Tôi là Mục Tử tốt lành.” Đức Giê-su là tất cả đối với chúng ta : Người là cửa ràn chiên và là mục tử, Người là Chúa và là người Tôi Tớ, Người là Thiên Chúa, là con người. Mối liên hệ giữa Người với chúng ta không bao giờ bị gián đoạn. Đức Giê-su nói về cửa : “Tôi là cửa cho chiên ra vào. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.” “Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp, họ đến chỉ để trộm cướp, giết hại và phá huỷ.” Ta phải hiểu thế nào về lời Đức Giê-su nói : “Tôi là cửa cho chiên ra vào” ? Bài đọc 1 và 2 cho chúng ta câu trả lời thoả đáng.
Trong bài đọc 1, chúng ta thấy những người nghe bài giảng của ông Phê-rô sau lễ Hiện Xuống đã đau đớn trong lòng và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác : “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì ?” Ông Phê-rô đáp : “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội.” Đây là phương thế chính yếu để qua cửa mà vào ràn chiên : lãnh nhận phép Rửa, trở nên Ki-tô hữu. Tiếp đến, tất cả đời sống của người Ki-tô hữu phải liên kết chặt chẽ với phép rửa của mình, nghĩa là phải luôn đi qua cửa mà vào để biết Đức Ki-tô.
Trong bài đọc 2, thánh Phê-rô cho ta biết rằng : “Đức Ki-tô đã để lại cho anh em một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người.” Một chỉ dẫn mới mang một ý nghĩa mới cho định nghĩa Đức Ki-tô là “cửa cho chiên ra vào”. Vấn đề ở đây là dõi bước theo Người, qua Người mà vào khi thực hiện điều chính Người đã làm. Thánh Phê-rô giải thích tiếp, cách riêng là kiên trì chịu đựng đau khổ, không lấy ác báo ác, theo gương Đức Giê-su không dùng bạo lực để đáp trả bạo lực. Thánh Phê-rô quả quyết : “Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội, chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính.”
* Qua cửa mà vào, qua Đức Ki-tô là “cửa cho chiên ra vào” có nghĩa là bắt chước Người, sống như Người đã sống, đặc biệt là vui lòng vác thập giá như Người đã vác. Thay vì nổi loạn và sử dụng bạo lực, chúng ta hãy sống nhân từ, quảng đại. Giáo Hội luôn đi qua cửa và lúc nào cũng kết thúc các lời nguyện của mình bằng câu : “Nhờ Đức Ki-tô, Con Chúa là Chúa, và là Chúa chúng con.” Tất cả lời nguyện của Giáo Hội đều dâng lên Chúa Cha qua Đức Giê-su Ki-tô, nghĩa là những lời nguyện của Giáo Hội dâng lên Đức Ki-tô và nhờ Người dâng lên Chúa Cha. Giáo Hội quả quyết Đức Giê-su là Đấng Trung Gian. Thư Híp-ri cho ta biết : “Người là trung gian của một Giao ước mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời Giao ước cũ” (Hr 9,15). Cửa chỉ rõ công trình trung gian của Đức Ki-tô. Điều cần thiết là phải qua Người để được ơn cứu độ. Đức Giê-su quả quyết : “Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.” Người nói thêm : “Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.” Đức Giê-su dẫn đưa chúng ta vào thế giới nội tâm và cả thế giới bên ngoài. Chúng ta phải ở với Người khi chúng ta muốn bước vào thế giới nội tâm và thiết lập mối liên hệ thân tình với Thiên Chúa. Đức Giê-su nói : “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Nếu chúng ta muốn đi đến cùng Chúa Cha, chúng ta nhất thiết phải qua Đức Giê-su, kết hợp với Người, vì Người sẽ giới thiệu chúng ta với Chúa Cha.
Tất cả những lễ vật của chúng ta đều được dâng lên Chúa Cha “qua Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”. Người là Đấng Trung Gian duy nhất của Chúa Cha. Đức Giê-su cũng là Đấng Trung Gian của tất cả mọi việc chúng ta làm trong thế giới. Thánh Phao-lô đã nói với các tín hữu Cô-lô-xê : “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm, hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). “Nhân danh Chúa Giê-su” có nghĩa là qua Chúa Giê-su, kết hợp mật thiết với Người và của lễ Người dâng. Mọi việc chúng ta làm trong thế giới chỉ có giá trị nếu chúng ta nhờ Chúa Giê-su, nếu chúng ta kết hợp với Người ngay cả những mối tương giao với tha nhân trong cuộc sống thường ngày. Một người cha, một người mẹ, để chăm sóc tốt con cái của mình, cần phải đi qua cửa là Chúa Giê-su, nghĩa là phải liên kết với Người để trở nên những cha mẹ đích thực giáo dục con cái biết mến Chúa, yêu người đúng cách, lương thiện trong tất cả mọi việc làm và biết tạ ơn Chúa vì mọi ơn lành Người đã thương ban. Trong các mối tương giao thường ngày, chúng ta phải qua Chúa Giê-su. Tất cả những gì chúng ta làm, chúng ta phải kết hợp với con tim của Người. Thật vậy, tất cả mọi công việc tốt đẹp, là công việc của Chúa Giê-su mà chúng ta là những người cộng tác với Người.
* Chúa Giê-su là Đấng Trung Gian phổ quát. Người là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và con người. Người là Đấng Trung Gian trong các mối liên hệ giữa con người với nhau. Chúng ta phải liên kết với con tim của Người để hoàn thành công trình cứu độ của Người giữa lòng thế giới hôm nay. Mỗi người chúng ta phải hoàn thành một phần công việc của Người khi liên kết với Người. Như vậy đời sống của chúng ta trở nên đời sống của người Ki-tô hữu đích thực, một đời sống đẹp lòng Chúa và hữu ích cho tha nhân.
* Đức Giê-su quả quyết : “Tôi là cửa cho chiên ra vào. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.” Nếu không qua cửa mà vào thì chúng ta là kẻ trộm ; thay vì xây dựng thì chúng ta trở nên những kẻ phá hoại. Trái lại, nếu chúng ta qua cửa mà vào nhờ Đức Giê-su, nhờ con tim và tình yêu của Người thì chúng ta sẽ được cứu độ và được sống một cuộc sống hạnh phúc. Đức Giê-su đã nói : “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Sự trung gian của Đức Giê-su đem lại cho chúng ta mọi ân sủng cần thiết để sống trọn vẹn ơn gọi Ki-tô hữu của mình, làm tròn bổn phận được giao phó và thực hiện thành công các kế hoạch đã đề ra. Khi liên kết với Chúa Giê-su, chúng ta mới có thể có một cuộc sống viên mãn, an bình và hạnh phúc. Nếu không liên kết với Người, chúng ta có thể bị lạc lối và gặp những hậu quả tai hại cho đời sống đức tin của mình.
“Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta đón nhận sự sống của Đức Giê-su hiến mình vì chúng ta. Chúng ta đón nhận sự sống của Người để sống trọn vẹn đức ái thần linh. Đó là ơn gọi của tất cả chúng ta. Chúng ta có quyền hãnh diện về ân ban này và chúng ta phải biết ơn Thiên Chúa qua Đức Giê-su, Đấng Trung Gian duy nhất.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Vị Mục Tử tối cao và nhân hậu, xin cho tất cả các vị mục tử của chúng con luôn noi gương Chúa là Vị Mục Tử hiến dâng mạng sống vì yêu thương đoàn chiên của mình.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có hợp tác với các vị mục tử trong công cuộc loan báo Tin Mừng không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Những liên hệ dựa trên những hiểu biết cá nhân, tức tình yêu
(J. Potin, “Đức Giê-su, lịch sử đích thực” Centurion, 1994, tr. 370-371).
Vượt trên cuộc luận chiến, dụ ngôn và bài học áp dụng minh định mối tương giao giữa Đức Giê-su và con người, Chúa biết rõ tên những người của mình, từng người một. Người không đẩy họ đi trước mình, nhưng Người đi trước họ, dẫn đường cho họ, nói với từng người, thu hút họ hơn là hướng dẫn họ, tuy nhiên, sói không ngừng lảng vảng quanh đoàn chiên, rình bắt những con chiên bất cẩn xa đàn, vị mục tử đích thực sẵn sàng đương đầu với sói vì mỗi con chiên đều quý giá vô ngần. Người sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Mối tương giao giữa họ hệt như giữa Chúa Cha và Chúa Con, mối tương giao ấy dựa trên sự hiểu biết riêng tư về nhau, nghĩa là trên tình yêu. Cha biết Con sẵn sàng tự hiến trọn vẹn cho những người bước theo và sẽ bước theo mình.
2. Chúa là mục tử của tôi
(H. Denis, trong “100 từ ngữ để nói lên niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 149-150).
Chúa Mục Tử, Chúa là Đấng mà với Người, trong cảnh nghèo khó cùng cực, người ta có thể cảm nghiệm và hiểu biết được sự phong phú của Thiên Chúa, đây chính là niềm ủi an
mới của Mùa Phục Sinh này, các bạn đã là những con chiên lạc, nhưng giữa các bạn, Con Chiên không tì vết đã hiến mình, và hoá thân thành mục tử, thành người chăn giữ mạng sống quý giá của các bạn.
Mục tử, một từ dân dã, một nghề gần như đã mai một, còn chăng chỉ có những du khách lâu lâu gặp thấy những người chăn cừu vùng sơn cước. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn nhạy cảm với hình ảnh của người mục tử với chiếc tù và đang tập họp đoàn chiên. Hơn thế nữa, người ta còn xúc động khám phá ra tấm lòng của Thiên Chúa, khi nhìn thấy người mục tử mệt lả vác con chiên lạc trên vai đưa trở về bầy.
Đức Giê-su chính là người muốn quy tụ về đàn chiên duy nhất của Người toàn thể nhân loại được thanh tẩy trong Máu Con Chiên. Điều đó khiến ta khiêm tốn. Tôi muốn nói rằng Đức Giê-su không bao giờ quả quyết Người chỉ là mục tử của các tín hữu, và chuồng chiên của Người chỉ gồm các Hội Thánh Công Giáo. Trong Tin Mừng của thánh Gio-an, Người tự giới thiệu như là Đấng đưa dẫn mọi người thiện chí về đồng cỏ xanh, là Đấng mà mọi người đều có thể nhận ra tiếng Người.
Các linh mục hay các mục tử không thể trở thành sở hữu chủ của những người mà họ phục vụ được. Vì thế, từ mọi đồng cỏ, mọi tôn giáo, mọi nền văn hoá đều có thể hướng về trời cất tiếng ca : “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì."
3. Loan báo những kỳ công Chúa đã thực hiện nơi ta và nhờ ta
(Tài liệu của Uỷ ban khuyến khích ơn gọi toàn quốc).
Cầu nguyện cho ơn kêu gọi, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi … những bản văn được đề nghị cho ngày này mời gọi ta vừa tiến bước, vừa đi theo con đường hoà nhập vào một cộng đoàn thuộc về Đức Giê-su, và mời gọi ta làm theo thánh ý Thiên Chúa, nghĩa là làm lành, sống trong tình yêu nồng nàn và thật sự của Đức Giê-su đối với thế giới bằng cách sống chiến đấu cho công bằng và qua đó biểu tỏ tất cả “niềm hy vọng trong chúng ta”.
Đức Ki-tô đã ban lời Người để nó thấm nhập, tăng trưởng, đâm rễ và triển nở trong đời sống chúng ta.
Lời Chúa mở cửa, mời gọi đón nhận và nhận biết sự tuỳ thuộc vào Thiên Chúa Tình Yêu, Thiên Chúa của Đức Ki-tô, Đấng biết rõ từng tên, từng người chúng ta. Người kêu gọi chúng ta, không phải để nhốt ta trong vòng rào mênh mông, hầu gìn giữ hay che chở chúng ta, nhưng như những con chiên mà Người kêu gọi, “Người đưa chúng ra ngoài” để nghe rõ tiếng Người hơn, … và nhận ra con đường mà chính Người đã mượn, trên đó, Người dẫn bước, ra đi và khơi dậy niềm tự do “để người ta được sống và sống dồi dào”.
Tất cả những điều này đều có thể thành toàn nhờ cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Đức Ki-tô, nhờ mối dây tình yêu thường hằng và liên tục giữa lòng với lòng. Vì thế cầu nguyện cho ơn gọi có nghĩa là cầu nguyện cho con người, chia sẻ cuộc sống của Thiên Chúa, trở nên những cộng đoàn, xây dựng những cộng đoàn Ki-tô hữu sống động và tích cực.
Còn về ơn gọi linh mục, tu sĩ, đừng mong những phép lạ, không phải chỉ cầu nguyện là có nhiều ơn gọi đâu … điều đó chỉ có được nếu chúng ta cầu nguyện trong chân lý, bằng cách xây dựng những cộng đoàn Ki-tô hữu thật sự, lúc bấy giờ, tự nhiên sẽ có những lời đáp trả.
Sợi chỉ đỏ:
- Bài đọc I: Hãy lãnh nhận phép rửa nhân danh Chúa Giêsu để được ơn tha tội và nhận được ân sủng là Thánh Thần.
- Đáp ca: Chúa là mục tử.
- Bài đọc II: Từ nay chúng ta như đã chết với tội lỗi và sống cuộc đời công chính. “Hãy quay về cùng vị mục tử chăm sóc linh hồn anh em”.
- Bài Phúc Âm: Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Lời Chúa hôm nay trình bày Chúa Giêsu là người mục tử tốt lành: Ngài biết rõ từng người chúng ta, Ngài thí mạng sống vì chúng ta, và Ngài dẫn chúng ta tới sự sống thật. Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta trở thành chiên của Ngài, không phải những con chiên bướng bỉnh mà là những con chiên biết chủ mình là ai, biết tiếng chủ và ngoan ngoãn bước theo sự dẫn dắt của chủ.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúa Giêsu muốn dẫn chúng ta tới sự sống thật, còn chúng ta nhiều khi từ chối không nghe theo sự hướng dẫn của Ngài.
- Chúa Giêsu biết rất rõ từng người chúng ta và yêu thương chúng ta vô cùng, thế mà lắm khi chúng ta hồ nghi tình thương của Chúa.
- Chúa Giêsu đã chịu biết bao đau khổ vì chúng ta, còn chúng ta nhiều khi gặp đau khổ thì nản lòng như kẻ không có đức tin.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I: Cv 2,36-41
Đây là phần kết luận bài giảng của Phêrô hôm lễ Ngũ tuần: Phêrô kết luận bằng cách kêu gọi người ta sám hối và lãnh nhận phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Dân chúng đã đáp lại cách nồng nhiệt. Kết quả là hôm ấy có thêm khoảng 3000 người theo đạo, gia nhập đoàn chiên của Chúa Giêsu.
2. Đáp ca: Tv 22
Hình ảnh người mục tử trong Thánh vịnh này áp dụng rất đúng vào Chúa Giêsu: Ngài chăm sóc từng người chúng ta, Ngài rửa sạch chúng ta trong nước bí tích Thanh Tẩy, Ngài cho ta uống no nê những ân huệ của Ngài, Ngài cho chúng ta dự tiệc Thánh Thể, và Ngài dẫn chúng ta tới với Chúa Cha. Ở bên Ngài chúng ta không thiếu thốn gì cả và chúng ta có thể luôn an lòng.
3. Bài đọc II: 1 Pr 2,20-25
So sánh cuộc đời hiện tại của các kitô hữu với thời gian trước kia, Thánh Phêrô nói: “Trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em”.
4. Bài Phúc Âm: Ga 10,1-10
Đoạn Ga 10,1-18 là một ẩn dụ trong đó Chúa Giêsu tự ví mình là “cửa chuồng chiên" và là “mục tử". Phần được chọn đọc hôm nay là hình ảnh “cửa chuồng chiên" (cc 1-10).
Chúng ta nên biết rằng ở xứ Palestina, người ta nuôi chiên rất đông. Ban đêm, các mục tử dẫn các đàn chiên của mình vào một cái chuồng chung ở giữa đồng cỏ và chia phiên nhau canh gác ở ngay cửa ra vào. Đến sáng, từng mục tử qua cửa để vào chuồng và gọi tên các con chiên trong đàn mình. Chúng đã quen tiếng mục tử nên đi theo ra khỏi chuồng đến những đồng cỏ. Những tên trộm cướp không dám qua cửa vì sợ đụng người canh gác nên phải trèo rào mà vào. Nhưng dù vậy, chiên cũng không đến gần bọn họ vì chúng lạ họ. Nếu họ có đưa được con chiên nào ra khỏi chuồng thì cũng không phải để nuôi dưỡng nhưng để giết ăn thịt.
Qua những câu này, Chúa Giêsu muốn so sánh Ngài với các nhà lãnh đạo tôn giáo do thái thời đó: họ không phải là mục tử thật nhưng là những tên trộm cướp leo rào vào chuồng, họ không chăm sóc cho chiên nhưng chỉ làm hại chiên; chính Chúa Giêsu mới là mục tử thật và là cửa chuồng chiên.
Câu chuyện
Cha Mark Link SJ, có mô tả một cái chuồng chiên trong câu chuyện: “Vùng đất thánh - The Holy Land” của John Kellm: Chuồng chiên ở Do Thái có một bức tường bằng đá chung quanh cao khoảng bốn bộ (cỡ 1m4) và một lối vào.
Kellman kể rằng: Ngày nọ một du khách Thánh Địa đã trông thấy một cái chuồng chiên ngoài đồng gần Hebron. Anh du khách hỏi người mục tử đang ngồi cạnh đó: “Cửa chuồng của anh ở đâu ?”. Người mục tử liền đáp: “Tôi chính là cửa chuồng”. Đoạn người mục tử kể cho du khách nghe anh ta nằm chặn ngang lối vào chật hẹp đó. Không có chú chiên nào có thể bỏ chuồng đi ra, và cũng chẳng có con thú rừng nào có thể đi vào mà không bước qua mình anh ta.
Suy niệm
Đức Kitô là cửa mở rộng đến sự sống như Ngài tuyên bố: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Ngài là cửa mở rộng dẫn đưa chúng ta vào sự sống, hình ảnh rõ nét nhất là trái tim của Ngài bị đâm thâu (x. Ga 19,34), như cánh cửa tâm hồn của Thiên Chúa mở ra, tuôn trào nguồn sống cho nhân loại qua hình ảnh máu và nước: Máu sự sống mới và nước trường sinh nuôi dưỡng nhân loại như thánh Grégoire le Grand chia sẻ: “Chính Ngài là cửa, bởi vì qua Ngài mà chúng ta đến với Ngài”....
Tin Mừng Gioan 10,1-10 gợi cho chúng ta ba yếu tố cơ bản: cửa, chủ chiên và chiên. Cả ba hợp nhất trong một hình ảnh: Người chăn chiên chân chính, và đàn chiên của mình qua cửa tình yêu, cửa sự sống như Chúa Giêsu nhấn mạnh. Qua Đức Kitô là cửa, người chăn chiên được đi trong sự chính danh chủ chiên, chứ không phải là người làm thuê, và càng không phải là kẻ trộm cướp vì họ không đi qua cửa mà vào với chiên như Chúa Giêsu đã chứng nhận (x. Ga 10,2). Thật thế, người chủ chiên phải đi qua cửa là Đức Kitô như Ngài nói: “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Chuồng chiên như là hình ảnh của cung lòng Chúa Cha, nơi đó mọi chiên được chăm sóc dưỡng nuôi.
Chiêm ngắm Đức Kitô - Đấng là cửa để ai đi vào đó thì có sự sống, tôi và bạn tìm đến với Ngài dù tâm hồn đầy thương tích như những chú chiên bị thương, nhưng tin vào lời Ngài đã hứa: “Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi”… Hơn nữa, được nuôi dưỡng như Ngài khẳng định: “người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân” (Ga 10,9).
Cầu mong cho các bậc chủ chiên trong Giáo hội luôn là mục tử đi dưới cửa: Không phải là cửa quyền mà là cửa tình yêu đi vào sức sống... như thánh Augustinô đã chia sẻ với các tín hữu về người mục tử: “Đức Kitô là cửa đến với các bạn, đó là qua Đức Kitô, tôi đi đến, không phải là nhà của các bạn mà là trái tim của các bạn, các bạn lắng nghe Đức Kitô trong tôi, và bởi vì các bạn là chiên của Đức Kitô, mà các bạn đã được mua lại bằng chính giá máu của Đức Kitô”.
Chiêm ngắm Đức Kitô - Đấng là cửa mở rộng cho tất cả, tôi và bạn dâng một lời cầu nguyện cho ơn gọi và nói về các người trẻ về lý tưởng hiến dâng, lý tưởng trở nên mục tử, trở nên cửa tình yêu, cửa sự sống: “Đẹp thay những bước chân rao giảng đem Tin Mừng”.
Ý lực sống
“Chính Chúa là bầu trời và cũng là tổ ấm. Chúa ấp ủ hồn con bằng màu sắc âm thanh, bằng hương hoa ngào ngạt là tình yêu của Ngài” (Tagore, Gitanjali #67).
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Tiếng gọi từ bờ hồ Tibêria: Khi tình yêu hóa thành tấm bánh
Ngọn lửa trên đồi Thánh Tâm
Lời Xin Vâng Trước Ngưỡng Cửa Vĩnh Hằng
Tiếng gọi giữa đêm đen và sóng cả
Chúa GS- Bánh Trường Sinh cho cơn khát linh hồn
Tự tình đêm khuya
Tấm Bánh Trời Cao: Khúc Ca Của Tình Yêu Hiến Tế
Lời của nắng
Xin là tấm bánh được bẻ ra mà chia sẻ
Xin cho con trở nên dòng chảy nồng nàn của sự sống