Thánh Apôllinarê, Giám mục, tử đạo

Chủ nhật - 19/07/2026 05:02 Tác giả: Ban Biên Tập
Ngày 20/07: Thánh Apôllinarê, Giám mục, tử đạo-Thánh Kunigunde
Thánh Apôllinarê, Giám mục, tử đạo

Ngày 20/07: Thánh Apôllinarê, Giám mục, tử đạo

 

Ngày 20 tháng 7
THÁNH APÔLLINARÊ,
GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO

I. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ

Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng kính thánh Apôllinarê, Giám Mục, Tử Đạo.

Chúng ta không có nhiều tài liệu lịch sử về vị Giám Mục này.

Tài liệu chỉ cho chúng ta biết: Vị thánh này sống ở thế kỷ thứ nhất và  những điều chúng ta biết được về thánh nhân được đều được trích từ các tài liệu và bài giảng của hai thánh Bêđa và Phêrô kim ngôn. Đây là hai vị thánh tiến sĩ nổi tiếng của Giáo Hội. Tuy nhiên các tài liệu này cũng rất hạn chế.

Một cách vắn gọn thì tài liệu cho chúng ta biết Thánh Apôllinarê sinh tại Antiôkia. Ngài là môn đệ của thánh Phêrô Kim Ngôn. Thánh Phêrô đã đặt Apôllinarê làm Giám mục và sai ngài tới truyền giáo tại Ravenna, nước Ý. Ở đó, Apôllinarê đã làm cho nhiều người trở về với Giáo hội bằng gương sáng đời sống thánh thiện cũng như bằng những lời ngài rao giảng. Nhân danh Đức Kitô, thánh Apôllinarê có thể chữa lành những người đau bệnh.

Thánh Apôllinarê làm Giám mục trong thời trị vì của hoàng đế Vespasianô. Vì những cuộc bách hại các Kitô hữu, Apôllinarê đã bị đi đày bốn lần. Thực sự, không chắc là Apôllinarê đã bị chết vì đức tin, nhưng thánh nhân đã bị giam cầm và bị hành hạ rất nhiều lần trong suốt 20 năm làm Giám mục Giáo phận Ravenna. Thánh nhân được dân chúng tôn kính như vị thánh tử đạo bởi những cuộc bách hại ngài phải chịu vì Chúa Kitô.

Tóm lại đời sống của thánh Apôllinarê đã cho chúng ta thấy thánh nhân là người đã can đảm làm chứng cho Chúa Kitô, Ngài can đảm hy sinh cả mạng sống để nói lên lòng trung thành của mình đối với Tin Mừng của Chúa suốt trọn cuộc đời.

II. BÀI HỌC.

Kính thưa anh chị em,

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà nhiều người không còn muốn tin vào Thiên Chúa nữa.

Một câu truyện như một minh họa cho sự việc này:

“Một hôm thần dữ Satan triệu tập tất cả các sứ giả của mình lại để sai đến trần gian với sứ mạng duy nhất này là giải thích cho con người biết Thiên Chúa đã chết rồi.

Các sứ giả ra đi. Nhưng không bao lâu sau tất cả đều trở về. Thần dữ Satan ngạc nhiên hỏi:

-Tại sao các ngươi thực hiện công tác nhanh như thế? Hay là có chuyện gì trục trặc chăng?

Các sứ giả đồng thanh đáp:

- Thưa Ngài, chúng tôi không còn việc gì để làm nữa. Bởi vì tất cả những nơi chúng tôi đi qua trên trần gian, nơi nào con người cũng sống như thể Thiên Chúa đã chết rồi. Họ hận thù, chém giết nhau, gian tham, trộm cắp. Không có gì xấu mà con người không làm. Dù nhiều người vẫn còn xưng mình là kẻ tin Thiên Chúa, nhưng cách sống của họ không hề biểu lộ niềm tin này mà ngược lại như là loan báo Thiên Chúa đã chết rồi. Như vậy chúng ta đâu cần tốn công thuyết phục con người nữa.

Con người sống như Thiên Chúa đã chết. Đó là một lời cảnh tĩnh nghiêm trọng đáng cho chúng ta, những đồ đệ của Chúa Giêsu, suy nghĩ để kiểm điểm lại đời sống mình hôm nay.

Thánh Apôllinarê ngày xưa bằng lời rao giảng và nhất là bằng cuộc sống tốt lành, thánh thiện của ngài đã cho mọi người như đang được gần gũi với một Thiên Chúa đầy lòng thương xót đang hiện diện giữa con người và làm cho con người biết sống yêu thương nhau cũng như được sống một cuộc sống hạnh phúc hơn.

Mỗi người chúng cũng hãy làm cho Chúa được lớn lên trong cuộc sống của chúng ta cũng như trong cuộc sống của mọi người trên thế giới này để mọi người đang sống trên thế giới đầy đau khổ này tìm được niềm vui và ý nghĩa cho cuộc sống của mình.

Linh mục Anthony de Mello có kể một câu chuyện sau đây:

Có gia đình kia đi nghỉ hè ngoài bờ biển. Hôm đó mấy đứa con đang nô đùa, xây lâu đài bằng cát trên bãi biển, thì thấy một cụ bà xuất hiện. Tóc bà rối bời trong gió, áo quần tả tơi. Bà vừa đi vừa cúi xuống nhặt những vật gì đó trên mặt cát và cho vào giỏ.

Cha mẹ các trẻ thấy bà nghèo xơ nghèo xác như thế thì cấm các trẻ đến gần bà. Nhưng khi đi ngang họ, bà mỉm cười với họ, nhưng họ quay mặt đi chỗ khác. Ít hôm sau, cả gia đình biết bà cụ đó là người tình nguyện đi lượm các mảnh thủy tinh rơi rớt trên bãi biển, để các trẻ em đi trên cát khỏi bị đứt chân.

“Giữa các ngươi có một Đấng mà các ngươi không biết” (Ga. l,26)

Cụ bà nghèo khó tình nguyện làm việc âm thầm để cho các trẻ khỏi đứt chân. Phải chăng bà là hình ảnh Chúa Giêsu. Người ở  giữa mọi người, ban ơn làm phúc cho mọi người mà loài người không biết, không nhận Người, khinh dễ người. Và gioan Tiền hô, qua lối sống khổ hạnh khác thường, đã làm chứng cho Đấng Cứu Thế. Như Gioan, mỗi người tin hữu cũng là chứng nhân cho Chúa Kitô trong cuộc sống. Teillard de Chardin đã ví: Anh Sáng xuyên qua đám mây, người ta biết là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người đoán được có Đức Kitô “.Và Martin Luther King đã nói: “Chúng ta không chỉ làm chứng bằng lời nói, mà còn bằng cuộc sống của mình” (Theo Như Thầy đã yêu)

Thiên Chúa mà chết đi khỏi tấm lòng con người, thì con người cũng bị hủy diệt theo.

Xã hội chúng ta, đất nước, quê hương chúng ta đang cần những chứng nhân của Chúa.

Mỗi người chúng ta đều có sứ mệnh làm chứng cho Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta phải dùng chính cuộc sống tốt lành của mình để xác quyết Thiên Chúa đang sống và hành động trong trần gian này.

Tự hào là môn đệ Chúa Giêsu, làm sao chúng ta có thể quên được nhật lệnh của Thầy: “Chúng con hãy làm chứng!”

Đó là ơn gọi, là sứ mệnh, là căn tính, là lý do hiện hữu của người Kitô chúng ta.

Ngày nay không ai lại không biết Mẹ Têrêsa thành Calcutta, một nữ tu Bác ái chuyên việc tông đồ bằng cách phục vụ những kẻ mắc bệnh cùi, ốm đau, cùng khổ, đặc biệt là những người đang hấp hối nằm la liệt trên các hè phố tại Calcutta, Ấn Độ.

Trước đây, có lần một vị sư Phật giáo nói với Mẹ: “Tôi biết và yêu mến Đức Kitô lắm, nhưng tôi ghét Hội thánh của Ngài. Nếu các chị làm điều các chị nói, có lẽ các chị sẽ trớ nên nơi hội ngộ để chúng tôi có thể gặp gỡ Hội thánh của Đức Kitô”.

Sau một năm, có dịp cùng làm việc với Mẹ Têrêxa, vị sư đó phát biểu: “Tôi đã quan sát chị. Bây giờ tôi thực sự tin rằng các chị làm việc chỉ cốt để giúp những người nghèo khổ xấu số nhất. Chúng tôi sẽ dâng cho các chị một ngôi nhà trong khuôn viên chùa chúng tôi để làm bệnh xá miễn phí!”

Nhờ các cuộc hoạt động từ thiện, bác ái, Mẹ Têrêsa đã nhận được nhiều giải thưởng của chính phủ Ấn Độ, chẳng hạn như giải “Padna Shri” (Hoa huệ tuyệt vời) năm 1963. Cùng năm đó, chính phủ Philippine tặng Mẹ giải thưởng Magsaysay (giải thưởng dành cho vùng Đông Nam Á về các công cuộc xã hội). Năm 1971, Mẹ lại được vinh dự lãnh giải thưởng “Hoà bình Gioan XXIII” do chính tay Đức Phaolô VI trao tặng tại Rôma. Gần đây nhất, tháng 10 năm 1979, Mẹ Têrêsa lại được hân hạnh nhận giải thưởng Nobel Hòa bình 1 979 là giải thưởng lớn nhất và tiếng tăm nhất Thế giới.

Thế nhưng giải thưởng làm Mẹ Têrêsa thích thú và hãnh diện nhất chính là đưa được nhiều người về với Hội Thánh Công giáo và làm cho nhiều người khác yêu mến Hội Thánh của Đức Kitô hơn.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý
 
NGÀY 20 THÁNG 7: THÁNH APÔLLINARÊ, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO

WHĐ (20/7/2026) - Thánh Apôllinarê, môn đệ của Thánh Phêrô, được sai đến Ravenna để loan báo Tin mừng và trở thành vị Giám mục tiên khởi của thành này. Sau nhiều năm chăn dắt đoàn chiên giữa muôn vàn khó khăn, ngài đã đổ máu đào làm chứng cho đức tin dưới thời hoàng đế Vespasianô.

 

Ngày 20 tháng 7

THÁNH APÔLLINARÊ, GIÁM MỤC RAVENNA, TỬ ĐẠO

Cũng như thường thấy nơi các vị thánh sống vào thế kỷ I, không có nhiều sử liệu chắc chắn về cuộc đời thánh Apôllinarê, vị Giám mục tiên khởi của Ravenna. Ngài sống vào thời Đế quốc Byzantin thuộc Đông phương, dường như cuộc gặp gỡ với Tông đồ Phêrô đã đóng vai trò quyết định trong cuộc đời ngài. Tuy nhiên, một số sử liệu khác lại xác định niên đại lịch sử của vị thánh này muộn hơn, vào khoảng năm 150-200.

Theo Chúa Giêsu đến tận cùng thế giới

Apôllinarê là một thanh niên đầy hoài bão, ngài sống tại Antiôkia cùng gia đình theo tôn giáo ngoại giáo. Một ngày kia, có người đến thành phố của ngài và nói về một cách thức yêu thương nhau hoàn toàn mới mẻ, như chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Người ấy tên là Phêrô, và những lời ngài nói chính là lời của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa – Đấng mà ngài đã tận mắt chứng kiến chịu chết rồi sống lại để cứu chuộc nhân loại, và từ Đấng ấy, ngài đã lãnh nhận sứ mạng xây dựng Hội thánh của Người. Chính vì thế mà Phêrô đã đi rất nhiều nơi, vào khoảng năm 44 ngài đến Syria. Apôllinarê bị lời rao giảng của Thánh Phêrô cuốn hút và quyết định đi theo ngài đến Rôma. Từ đó, Thánh Phêrô sai ngài đến Classe, gần Ravenna, nơi hải quân Rôma có một căn cứ với hàng trăm thủy thủ, phần lớn đến từ các xứ phương Đông. Một số sử liệu còn nói đến một sứ vụ truyền giáo của ngài tại Mêsia và Thracia kéo dài khoảng ba năm.

Giám mục tiên khởi của Ravenna, giữa cơn thịnh nộ của người ngoại giáo

Apôllinarê là người thông minh, nhạy bén và đặc biệt có tài hùng biện. Ngài đã đưa nhiều người, kể cả những gia đình, trở lại đức tin Kitô giáo. Vì vậy, Thánh Phêrô đã giao cho ngài việc xây dựng Giáo hội Ravenna, và đặt ngài làm vị mục tử, tức là vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội này. Khi vừa đến thành phố, Apôllinarê đã chữa lành cho vợ của một vị quan bảo hộ dân, nhưng khi chính quyền vừa hay biết liền yêu cầu ngài tế lễ các thần ngoại giáo. Apôllinarê từ chối và đáp rằng các thần tượng ấy chỉ được làm bằng vàng bạc, những chất liệu quý giá mà lẽ ra nên đem bán đi để lấy tiền giúp người nghèo; vì câu trả lời này, ngài đã bị đánh đập tàn nhẫn. Mặc dù khởi đầu đầy gian nan như thế, ngài vẫn tiếp tục hướng dẫn Giáo hội này ít nhất ba mươi năm, để lại danh tiếng là một "linh mục" và "chứng nhân đức tin"– tước hiệu mà người ta vẫn dùng để gọi ngài.

Cuộc tử đạo và lan rộng lòng sùng kính ngài

Thánh Apôllinarê đã sống trọn vẹn sứ vụ mục tử của một Giám mục, khi đưa dẫn được rất nhiều người đến với đức tin. Và điều tất yếu là đến một lúc nào đó, ngài trở thành mục tiêu bách hại của người ngoại giáo. Bấy giờ là thời hoàng đế Vespasianô, năm 70 sau Công nguyên; người ta ra lệnh cấm ngài không được tiếp tục rao giảng, nhưng ngài nhất quyết không vâng theo. Một ngày kia, sau khi trở về từ một chuyến đi thăm trại phong, ngài bị đánh đập dữ dội đến mức kiệt sức, và quả thật, bảy ngày sau ngài đã qua đời. Trên chính nơi ngài chịu tử đạo, một vương cung thánh đường đã được xây dựng, nay là Vương cung thánh đường Thánh Apôllinarê ở Classe, được cung hiến năm 549. Lòng sùng kính Thánh Apôllinarê nhanh chóng lan rộng vượt ra ngoài Ravenna, đến tận Rôma, nhờ sự cổ võ của các Giáo hoàng Symmacô và Honôriô I; thậm chí Vua Clovis của người Frank còn dâng cúng một ngôi thánh đường gần Dijon để kính ngài. Sau cùng, vào thế kỷ IX, di hài của ngài được rước về thành phố và được lưu giữ trong ngôi thánh đường từ đó mang tên Thánh Apôllinarê mới (Saint-Apollinaire-le-Neuf).

Header

NGÀY 20 THÁNG 7: THÁNH APÔLLINARÊ, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO

avatar
 Maria Hải Châu, SSS
Chuyển ngữ từ: vaticannews.va/fr

Thánh Kunigunde (1224-1292)

tthoo
Khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về quê hương Ba Lan vào tháng Sáu năm 1999, ngài đã thể hiện giấc mơ phong thánh cho Kunigunde, một công chúa người Ba Lan mà việc phong thánh đã bị đình trệ trong nhiều năm vì điều kiện chính trị. Cùng cử mừng biến cố quan trọng này với đức giáo hoàng là nửa triệu người dân Ba Lan trong một cánh đồng ở ngoại ô thành phố Stary Sacz
 
Kunigunde, hay còn gọi là Kinga, sinh trong thế kỷ 13 ở Hung Gia Lợi và thuộc về một hoàng tộc không những nổi tiếng về thế lực chính trị mà còn có nhiều phụ nữ thánh thiện. Những người dì của Kunigunde gồm Thánh Elizabeth ở Hung Gia Lợi, Thánh Hedwig và Chân Phước Agnes ở Prague; cũng được kể trong vòng bà con là Thánh Margaret dòng Đa Minh và Chân Phước Yolande.
 
Khi mới 15 tuổi, Kunigunde đã hứa hôn với một thanh niên mà sau này là Vua Boleslaus của Ba Lan. Khi kết hôn, trước mặt vị giám mục, cả hai đều thề giữ mình đồng trinh và họ đã trung thành với lời thề ấy trong 40 năm hôn nhân.
 
Trong thời gian đó, Hoàng Hậu Kunigunde chăm sóc các cô em và dành nhiều thời giờ để đi thăm bệnh nhân. Với tư cách là Đệ Nhất Phu Nhân của Ba Lan, ngài lo lắng đến phúc lợi của người dân và các nhu cầu đặc biệt của họ. Ngài cho xây nhiều nhà thờ và bệnh viện cũng như chuộc người Công Giáo khỏi tay người Thổ Nhĩ Kỳ.
 
Khi Vua Boleslaus từ trần năm 1279, dân chúng thúc giục Hoàng Hậu Kunigunde lên nắm quyền cai trị, nhưng ngài ao ước tận hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Do đó, trong 13 năm, ngài sống cuộc đời đơn sơ của một nữ tu dòng Thánh Clara Nghèo Hèn, sống trong tu viện mà chính tay ngài đã thiết lập ở Stary Sacz. Sau đó, ngài được chọn làm bề trên, và đã cai quản dòng với sự khôn ngoan và bác ái.
 
Ngài từ trần ngày 24 tháng Bảy 1292 khi 58 tuổi. Nhiều phép lạ đã xảy ra tại ngôi mộ của ngài.
Vào năm 1715, Đức Giáo Hoàng Clêmentê XI đặt ngài làm quan thầy đặc biệt của người Ba Lan và người Lithuania.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây