Ngày 14 tháng 7
Thánh CAMILLÔ LELLIS, LINH MỤC
(1550-1614)
I. ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ
Thánh Camillô Lêllis sinh tại thành Napôli, nước Ý, vào năm 1550. Cuộc sống thơ ấu của Camillô không mấy tốt đẹp. Tuổi thanh niên Camillô gia nhập quân đội và mắc phải thói cờ bạc. Nết xấu này làm cho Camillô lúc 24 tuổi phải nghèo xơ xác. Vì muốn thay đổi cuộc đời, Camillô đã xin vào tu trong dòng Capuxinô ở thành Napôli.
Thế nhưng Camillô không thể tuyên khấn ở trong dòng được bởi vì một cái chân của ngài bị trọng thương trong trận chiến hồi ngài đi lính nhưng tới nay vẫn không thể chữa trị được. Rất may, như người đời thường nói: trong cái rủi lại có cái may, Vì không được tuyên khấn, Camillô bắt đầu chuyển sang việc đi chăm sóc các người đau ốm trong thành phố Rôma; và rồi ngài đã trở thành giám đốc bệnh viện thánh Giacôbê.
Vị hướng dẫn tinh thần của Camillô, thánh Philipphê Nêri (lễ kính ngày 26 tháng Năm), là một linh mục rất thánh thiện ở Rôma hồi đó. Cha Philipphê đã giúp Camillô học làm linh mục. Sau đó, Camillô được thụ phong. Cha Camillô quyết định thành lập một nhóm đạo đức tình nguyện chăm sóc những người đau ốm. Cùng với hai người phụ tá, Camillô đã thiết lập một hội dòng chuyên lo cho những người đau bệnh, gọi là dòng Camillô.
Các tu sĩ Camillô phục vụ trong các bệnh xá ở Rôma và Napôli cũng như giúp các nạn nhân mắc bệnh dịch tả trên các boong tàu ở hải cảng Rôma. Camillô cùng các anh em linh mục và tu sĩ dòng của ngài cũng đến với những người nghèo, những người bệnh không ai chăm sóc. Các ngài đã liều mạng sống mình để đem an vui và hy vọng đến cho những bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm. Với thời gian, hội dòng phát triển mạnh và có thêm nhiều thành viên mới. Thánh Camillô Lêllis cũng gởi người tới giúp các binh lính bị thương tại Hungary và Croatia. Đây là đơn vị y khoa đầu tiên có mặt trên chiến trường.
Mùa hạ năm 1614, thánh nhân ngã bệnh nặng, uống thuốc gì cũng không thuyên giảm. Đêm ngày 14 tháng 7, ngài xin lỗi các thầy dòng đang đứng vây quanh giường, giang hai tay theo hình thánh giá, kêu tên cực trọng Chúa Giêsu và Đức Mẹ, rồi tắt thở êm ái, hưởng thọ 65 tuổi.
Năm 1746, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XIV đã tôn phong thánh nhân lên bậc hiển thánh. Giáo hội mừng lễ kính thánh nhân ngày 14.7.
Ngày 22/06/1886, Đức Thánh Cha Lêô VIII công bố hai Thánh Camillo De Lellis và Thánh Gioan Thiên Chúa làm “Bổn mạng của các bệnh nhân và bệnh viện trên toàn thế giới”. ĐTC Piô XI suy tôn Ngài và Thánh Gioan Thiên Chúa làm “Đấng bảo trợ nhân viên y tế”vào ngày 28/08/1930.

II. BÀI HỌC
1. Ơn gọi của thánh Camillô.
Nhìn lại cuộc đời của thánh Camillô chúng ta thấy thật lạ lùng.
Đúng là cuộc sống có những điều bất ngờ nhiều khi không hiểu nổi: Làm thế nào mà các bác sĩ đã đi đến kết luận là tập thể dục sẽ kéo dài tuổi thọ khi con thỏ luôn nhảy lên và nhảy xuống, nhưng nó chỉ sống được 2 năm, trong khi đó con rùa không vận động gì lại sống được đến 400 năm...
Về phương diện thiêng liêng cũng thế. Làm sao một con người là kẻ thù của Chúa lại có thể trở thành kẻ rao giảng về Người như trường hợp của Phaolô?
Làm sao chúng ta có thể hiểu được một chàng thanh niên hư thân mất nết, say sưa nghiện ngập lại có thể trở thành một ông thánh lập dòng chuyên chăm sóc cho những bệnh nhân đau khổ?
Công đồng Vatican II đã nói thật hay: "Mọi tín hữu, bất kể điều kiện hay bậc sống của họ, đều được Chúa kêu gọi, mỗi người theo cách riêng của mình, tiến đến sự thánh thiện hoàn hảo như Chúa Cha là Ðấng hoàn hảo"
Nếu người thanh niên say sưa nghiện ngập không gặp những thất bại trên đường đời và nếu không bị đối xử bất nhân trong khi phải nằm chữa trị trong bệnh viện thì chưa chắc gì ngày hôm nay đã có từng lớp, từng lớp người nối tiếp nhau cùng nhau chăm sóc cho những người đau khổ bất hạnh trên thế giới dưới danh nghĩa là dòng Camillô.
Chúng ta phải nói: tất cả là do lòng thương xót của Thiên Chúa và sự quan phòng đầy tình yêu thương của Người.
2. Con đường nên thánh của Camillô Lellis.
Chúng ta có thể nói ngay: Đó là con đường phục vụ.
Ban đầu Ngài qui tụ những anh em dấn thân phục vụ những người hấp hối ở bất cứ nơi nào. Họ luôn trung thành với lời khuyên của Ngài:
- Hãy hồi tâm để dâng lên những lời nguyện tắt và các bạn sẽ được nâng đỡ đặc biệt bên cạnh các bệnh nhân. Chớ gì họ biết cầu xin ơn tha thứ, biết dâng cái chết của họ hợp với sự chết của Chúa Giêsu Kitô và xin Người đón nhận linh hồn họ vào lòng nhân từ Người.
Năm 1586, Đức giáo hoàng Sixtô V chấp thuận chương trình của Ngài.
Năm 1588, Ngài được gọi đến lập tu viện ở Naples. Nơi đây Ngài đã thực hiện những hành vi đức ái kỳ diệu đối với các nạn nhân của một cơn dịch hạch.
Năm 1591, Đức giáo hoàng Grêgôriô XV đã nâng tu hội của Ngài thành dòng tu, ngoài ba lời khấn còn có lời khấn thứ tư là hiến thân phục vụ nhân loại đau khổ, dưới bất cứ bệnh tật nào. Dòng thánh Camillô phổ biến khắp nước Ý và còn phổ biến sang cả Pháp, Tây Ban Nha.
Con số tu sĩ và nhà dòng ngày một nhiều. Tuy nhiên, lòng tin tưởng của Camillô vào Chúa quan phòng thật vô bờ. Các chủ nợ lo âu hỏi Ngài:
- Bao giờ cha mới trả hết nợ cho chúng tôi?
Ngài trả lời :
- Đừng sợ gì! Chẳng lẽ Thiên Chúa quyền năng lại không gởi cho chúng ta món tiền nào sáng mai sao?
Các chủ nợ cười nói :
- Thời phép lạ đã qua rồi.
Nhưng rồi vài ngày hôm sau, Ngài được những túi tiền lớn đủ để trả nợ. Sự quan phòng cho thấy rằng các phép lạ có mãi cho những ai phó thác cho Chúa.
Khi tuổi cao, Camillô vẫn không giảm bớt những phục vụ bên cạnh các người đau khổ. Thấy vậy, các bệnh nhân nói:
- Cha nghỉ đi kẻo té ngã mất.
Nhưng Ngài trả lời :
- Này các con, cha là nô lệ của các con, cha phải làm mọi sự có thể làm được để phục vụ các con.
Đi từ giường này tới giường khác, Ngài tự nhủ:
- Hạnh phúc tôi mong đợi lớn lao đến nỗi mọi đau khổ đều thành niềm vui của tôi.
Kiệt sức vì công việc và đau đớn, Camillô Lellis chỉ còn là một bộ xương. Khi thấy giờ chết tới gần, Ngài vui sướng:
- Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: nào ta đi về nhà Chúa.
Được đưa về phòng, Ngài còn nói trong nước mắt:
- Lạy Chúa, con biết con là một tội nhân ghê gớm. Nhưng xin hãy cứu con nhờ lòng nhân lành của Chúa.
Ngày 14 tháng 7 năm 1614 Camillô Lellis an nghỉ bình an trong Chúa.
Năm 1746, Đức giáo hoàng Bênêđictô đã suy tôn Ngài lên bậc hiển thánh.
14 Tháng Bảy
Thánh Kateri Tekakwitha
(1656-1680)
Máu các vị tử đạo là hạt giống nẩy sinh các thánh. Chín năm sau khi các linh mục dòng Tên là Cha Isaac Jogues và Jean de Brebeuf bị các thổ dân da đỏ Huron và Iroquois tra tấn cho đến chết, một bé gái đã chào đời gần nơi các vị tử đạo, ở Auriesville, Nữu Ước. Cô là thổ dân da đỏ đầu tiên thuộc vùng Bắc Mỹ được phong chân phước. Mẹ cô là một Kitô Hữu người Algonquin, bà đã bị người Iroquois bắt và buộc phải làm vợ của tù trưởng bộ lạc Mohawk, là bộ lạc dũng cảm và tàn bạo nhất trong Ngũ Quốc.
Khi lên bốn tuổi, Kateri mất cha mẹ và cả đứa em trai trong trận dịch đậu mùa mà chính cô cũng bị gần như mù và khuôn mặt bị méo mó. Cô được một người chú đem về nuôi sau khi ông lên kế vị cha cô làm tù trưởng. Ông không thích các tu sĩ A¨o Ðen nhưng ông không thể làm gì được vì một thỏa ước ký kết với Pháp, buộc phải có sự hiện diện của tu sĩ trong các làng có người Kitô Giáo bị bắt giữ. Kateri rất thích nghe các vị tu sĩ A¨o Ðen giảng thuyết, nhưng chú cô lại sợ rằng cô sẽ theo đạo Công Giáo. Thật vậy, khi lên 19 tuổi, sau khi từ chối lời cầu hôn của một thanh niên Mohawk, vào Chúa Nhật Phục Sinh, cô đã được rửa tội và lấy tên thánh là Kateri (Catarina).
Bây giờ cô bị đối xử như một người nô lệ. Vì cô không làm việc ngày Chúa Nhật nên cô không được lãnh thực phẩm trong ngày ấy. Ðời sống ơn sủng của cô gia tăng mau chóng. Cô nói với một vị thừa sai rằng cô thường suy niệm về ơn cao trọng khi được rửa tội. Cô rất cảm kích bởi tình yêu mà Thiên Chúa dành cho loài người và cô nhìn thấy phẩm giá nơi mỗi một người dân. Cô luôn luôn trong tình trạng nguy hiểm, vì sự trở lại đạo và đời sống thánh thiện của cô đã tạo nên sự chống đối dữ dội. Theo lời khuyên của một linh mục, một đêm kia cô bỏ trốn và đi bộ 200 dặm đến một làng da đỏ Công Giáo ở Sault St. Louis, gần Montreal (Gia Nã Ðại).
Trong ba năm, Kateri ngày càng thánh thiện dưới sự dẫn dắt của một linh mục và một bà người Iroquois. Cô hiến mình cho Thiên Chúa qua những giờ cầu nguyện, làm việc bác ái và tích cực ăn chay hãm mình. Từ sáng sớm cô đã đứng chờ nơi cửa nhà thờ để dự lễ lúc 4 giờ sáng và ở lại đó cho đến Thánh Lễ cuối cùng. Cô đặc biệt sùng kính Thánh Thể và Ðức Giêsu trên Thánh Giá.
Vào năm 23 tuổi, Kateri thề giữ mình đồng trinh, đó là một hành động bất thường của một phụ nữ da đỏ, là người chỉ sống nhờ vào chồng. Cô lập một cái chòi trong rừng vắng để cầu nguyện hàng ngày và bị dèm pha là để gặp gỡ một người đàn ông! Việc cô thề giữ mình đồng trinh là một hành động theo bản năng, vì cô không biết trong Giáo Hội có đời sống tu trì dành cho nữ giới, mãi cho đến khi cô đến Montréal. Thấy vậy, cô phấn khởi cùng với hai người bạn định tâm thành lập một tu hội, nhưng vị linh mục địa phương đã ngăn cản cô. Rất khiêm tốn, cô chấp nhận một cuộc sống "bình thường" mà trong đó, cô ăn chay hãm mình một cách khắt khe như để đền tội cho dân tộc của cô.
Vào ngày 7 tháng Tư 1680, cô từ trần vào buổi tối trước Thứ Năm Tuần Thánh, mới hai mươi bốn tuổi. Các nhân chứng cho biết, lúc ấy khuôn mặt hốc hác của cô đổi màu và tươi tắn như một đứa trẻ khỏe mạnh. Các nếp nhăn, ngay cả các vết rỗ trên khuôn mặt cũng biến mất và một nụ cười hé nở trên môi cô.
Người da đỏ gọi cô là "Hoa huệ người Mohawk". Sự ngưỡng mộ Kateri đã giúp hình thành các trung tâm truyền giáo cho người da đỏ ở Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại. Kateri được phong chân phước năm 1980.
Lời Bàn
Chúng ta thường nghĩ đời sống thánh thiện bị cản trở bởi hoàn cảnh, và ước chi chúng ta có thêm thời giờ riêng tư, ít bị quấy rầy hay chống đối và được khoẻ mạnh hơn. Chân Phước Kateri đã chứng minh cho thấy, sự thánh thiện triển nở trên thập giá, ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, ngài đã có những gì mà mọi Kitô Hữu phải cần, đó là sự hỗ trợ của một cộng đoàn.
Ngài có một người mẹ tốt lành, có các linh mục tận tình giúp đỡ và các bạn Kitô Hữu. Những điều kiện này được gọi là tiên khởi, và chỉ sinh kết quả nếu quyết tâm thi hành ba nguyên tắc cổ xưa của Kitô Giáo là cầu nguyện, ăn chay và bố thí: kết hợp với Thiên Chúa qua Ðức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần, tự khắc phục con người của mình để vượt qua những đau khổ, và sống bác ái đối với anh chị em.
Lời Trích
"Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Ngài là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Ngài sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế."
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
CÁO PHÓ: ÔNG PHÊRÔ NGUYỄN VĂN CƯƠNG
Gx Thổ Hoàng: Lễ Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự
Thổ Hoàng Chung Lời Tạ Ơn
Được chọn gọi để hiệp thông và sai đi
Lòng chạnh thương và cánh đồng truyền giáo
Sống đơn sơ để Tin Mừng sinh hoa trái
Thích sống yên thân hay dám sống chứng nhân?
Mưa tháng bảy
Vịnh Không Tên
Vẩn vơ tháng bảy