Chúa nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa năm A

Thứ bảy - 06/06/2026 05:04 Tác giả: TGM Giuse Nguyễn Năng & các tác giả
“Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây,
để cho thế gian được sống”. (Ga 6,51)
Chúa nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa năm A

 

Chúa nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa năm A (Ga 6,51-58)

“Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây,
để cho thế gian được sống”. (Ga 6,51)


Bài Ðọc I: Ðnl 8, 2-3. 14b-16a
“Người sẽ ban cho các ngươi của ăn mà các ngươi và cha ông các ngươi chưa từng biết tới”.
Trích sách Ðệ Nhị Luật.
Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Các ngươi hãy nhớ tất cả đoạn đường mà Chúa là Thiên Chúa các ngươi đã dẫn đưa các ngươi qua sa mạc suốt bốn mươi năm, để rèn luyện và thử thách các ngươi, để biết các điều bí ẩn trong lòng các ngươi và xem các ngươi có tuân giữ lề luật của Người hay không ? Người đã để các ngươi vất vả thiếu thốn, và ban cho các ngươi manna làm của ăn mà các ngươi và cha ông các ngươi chưa từng biết tới, để tỏ cho các ngươi thấy rằng: Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.
“Các ngươi hãy nhớ Chúa là Thiên Chúa các ngươi, Ðấng đã dẫn đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Và Người là Ðấng đã dẫn các ngươi vào nơi hoang địa mênh mông và kinh khủng có nhiều rắn hổ lửa, bò cạp, rắn lục, và không có một giọt nước nào; Người đã khiến nước từ tảng đá cứng rắn vọt ra. Trong hoang địa, Người đã nuôi các ngươi bằng manna mà cha ông các ngươi chưa từng biết tới”.
Ðó là lời Chúa.


Ðáp Ca: Tv 147, 12-13. 14-15. 19-20.
Ðáp: Giêrusalem hỡi, hãy ngợi khen Chúa (c. 12a).
Xướng:
1) Giêrusalem hỡi, hãy ngợi khen Chúa. Hãy ngợi khen Thiên Chúa của ngươi, hỡi Sion! vì Người giữ chặt các then cửa ngươi, Người chúc phúc cho con cái ngươi trong thành nội. - Ðáp.
2) Người đã sai lời Người xuống cõi trần ai, và lời Người lanh chai chạy rảo. Người khiến tuyết rơi như thể lông cừu, Người gieo rắc sương đông như tro bụi trắng. - Ðáp.
3) Người đã loan truyền lời Người cho Giacóp, những thánh chỉ và huấn lệnh Người cho Israel. Người đã không làm cho dân tộc nào như thế, Người đã không công bố cho họ các huấn lệnh của Người. - Ðáp.


Bài Ðọc II: 1 Cr 10, 16-17
“Có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều, cũng chỉ là một thân thể”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.
Anh em thân mến, chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa chẳng phải là thông hiệp với máu Chúa Kitô sao ? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao ? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh.
Ðó là lời Chúa.



Tin mừng: Ga 6, 51-5851 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”.

Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

 
BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA
Lễ Mình và Máu Chúa Kitô năm A
Thứ Năm, 23.06.2011

THÁNH THỂ BIẾN ĐỔI CHÚNG TA VÀ THẾ GIỚI
Anh chị em thân mến,
Lễ Mình và Máu Chúa Kitô (Corpus Christi) không thể tách rời khỏi Thứ Năm Tuần Thánh với Lễ Tiệc Ly của Chúa (Caena Domini), Thánh lễ mà việc thiết lập Bí tích Thánh Thể được cử hành cách trọng thể. Trong khi vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta nhớ lại mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng hiến mình cho chúng ta trong tấm bánh được bẻ ra và ly rượu được sẻ chia, thì hôm nay, vào ngày lễ Mình và Máu Chúa Kitô, mầu nhiệm này được cử hành để Dân Chúa tôn thờ và chiêm niệm, và Thánh Thể được rước kiệu qua các con đường của các thành phố và làng mạc, để chứng tỏ rằng Chúa Kitô Phục Sinh đang đi giữa chúng ta và hướng dẫn chúng ta về Nước Thiên Đàng.
Những gì Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta trong sự riêng tư thân mật tại Phòng Tiệc Ly, thì hôm nay chúng ta bày tỏ một cách cởi mở, bởi vì tình yêu của Chúa Kitô không dành riêng cho một số ít người nhưng dành cho tất cả mọi người. Trong Thánh lễ Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh năm nay, tôi đã nhấn mạnh rằng chính trong Bí tích Thánh Thể, việc biến đổi “hoa màu ruộng đất” - bánh và rượu - đã được diễn ra với mục đích là để biến đổi cuộc sống của chúng ta và do đó mở đầu cho việc biến đổi thế giới. Đây là điểm mà tôi muốn nhấn mạnh trong chiều hôm nay.
Mọi sự bắt đầu, có thể nói, từ trái tim của Đức Kitô, Đấng, vào đêm trước cuộc khổ nạn của Người, trong Bữa Tiệc Ly, đã cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa và nhờ đó, với sức mạnh tình yêu của Người, Người đã biến đổi ý nghĩa của cái chết mà Người quyết tâm bước vào. Bí tích diễn ra trên bàn thờ được gọi là “Thánh Thể” - “tạ ơn” - diễn tả chính xác điều này: việc biến đổi bản thể của bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô là thành quả của ân sủng mà Chúa Kitô đã thực hiện nơi chính mình, ân sủng của một Tình yêu mạnh hơn sự chết, Tình yêu thần thiêng đã làm cho Người sống lại từ cõi chết. Đó là lý do tại sao Thánh Thể là lương thực cho sự sống đời đời, Bánh Hằng Sống. Từ trái tim của Đức Kitô, từ “kinh nguyện Thánh Thể” của Người vào đêm trước cuộc khổ nạn, tuôn trào năng lực biến đổi thực tại trong các chiều kích vũ trụ, con người và lịch sử của nó. Mọi sự đều phát xuất từ Thiên Chúa, từ quyền lực toàn năng của Tình Yêu Ba Ngôi của Ngài, được nhập thể nơi Chúa Giêsu. Trái tim của Đức Kitô đắm chìm trong Tình yêu này; do đó, Người có thể cảm tạ và ca ngợi Chúa Cha ngay cả khi đối mặt với sự phản bội và bạo lực, và bằng cách này Người làm thay đổi mọi thứ: con người và thế giới.
Sự biến đổi này có thể thực hiện được là nhờ vào một sự hiệp thông mạnh mẽ hơn sự chia rẽ, đó là sự hiệp thông của chính Thiên Chúa. Từ “communion – sự hiệp thông”, mà chúng ta cũng dùng để chỉ Bí tích Thánh Thể, tự nó tóm tắt các chiều kích (chiều dọc và chiều ngang) ân sủng của Chúa Kitô.
Những từ ngữ “to receive communion – đón nhận sự hiệp thông hay rước lễ”, ám chỉ hành động ăn Bánh Thánh Thể, điều này thật đẹp và rất hùng hồn. Thật vậy, khi chúng ta rước lễ, chúng ta đi vào sự hiệp thông với chính sự sống rất thánh của Chúa Giêsu, với chính năng lực của sự sống này, một sự sống được trao ban vì chúng ta và cho chúng ta. Từ Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, và đến với chúng ta: một sự hiệp thông duy nhất được thông truyền qua Bí tích Thánh Thể.
Chúng ta vừa nghe trong Bài Đọc II những lời của Thánh Tông Đồ Phaolô nói với các tín hữu Côrintô: “Chén chúc tụng mà chúng ta cầm lên chúc tụng Chúa chẳng phải là thông hiệp với máu Chúa Kitô sao? Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh” (1 Cr 10,16-17).
Thánh Augustinô giúp chúng ta hiểu hiệu năng của việc rước lễ khi ngài đề cập đến một thị kiến mà ngài đã có, trong đó Chúa Giêsu nói với ngài: “Ta là lương thực của kẻ mạnh; hãy mau lớn lên và con sẽ ăn Ta; con sẽ không biến đổi Ta, giống như con biến đổi lương thực của xác thịt thành chính con, nhưng con sẽ được biến đổi thành hình ảnh của Ta” (Confessions, vii, 10, 18).
Do đó, trong khi lương thực cho thân xác được tiêu hóa và hấp thụ bởi cơ thể và góp phần nuôi dưỡng cơ thể chúng ta, thì trong trường hợp Thánh Thể, một Lương Thực hoàn toàn khác: không phải chúng ta hấp thụ Thánh Thể mà chính Thánh Thể hấp thụ chúng ta, để chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô, thành một chi thể của Thân Thể Người, nên một với Người. Đoạn văn này rất quan trọng. Thật vậy, chính vì Chúa Kitô, qua việc rước lễ (hiệp thông Thánh Thể), biến đổi chúng ta thành Người, nên tính cách của chúng ta, qua cuộc gặp gỡ này, được mở ra, giải thoát khỏi tính vị kỷ và được tháp nhập vào Ngôi Vị Chúa Giêsu, Đấng đến lượt Người được chìm sâu vào trong sự hiệp thông Ba Ngôi. Vì thế, Bí tích Thánh Thể, trong khi kết hợp chúng ta với Chúa Kitô, đồng thời cũng mở chúng ta ra với những người khác, làm cho chúng ta trở thành những chi thể của nhau: chúng ta không còn bị chia rẽ, nhưng là một trong Người. Rước lễ không chỉ liên kết tôi với người bênh cạnh, với người mà tôi thậm chí không có thiện cảm với họ, mà còn với những người anh em xa xôi ở mọi nơi trên thế giới.
Do đó, ý nghĩa sâu xa về sự hiện diện của Giáo hội trong xã hội bắt nguồn từ Bí tích Thánh Thể, điều này được minh chứng bởi các vị thánh hoạt động xã hội vĩ đại, những người luôn mang trong tâm hồn mình Thánh Thể cao cả. Những ai nhận ra Chúa Giêsu trong Thánh Thể, thì cũng nhận ra Người nơi anh chị em đau khổ, những người đói khát, những người khách lạ, trần truồng, bệnh tật hay tù tội; và họ quan tâm đến mọi người, họ làm việc thiết thực để giúp tất cả những ai gặp khó khăn.
Do đó, trong việc xây dựng một xã hội hỗ trợ, công bằng và huynh đệ, trách nhiệm đặc biệt của chúng ta, với tư cách là kitô hữu, xuất phát từ món quà tình yêu của Đức Kitô. Nhất là trong thời đại chúng ta, trong đó toàn cầu hóa làm cho chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nhau, Kitô giáo có thể và phải tin chắc rằng sự hiệp nhất này không thể được xây dựng nếu không có Thiên Chúa; thật vậy, không có Tình yêu đích thực, thì sự hiệp nhất sẽ nhường chỗ cho sự mê muội, chủ nghĩa ích kỷ và sự độc tài của mỗi người trong việc tìm cách áp bức những người khác. Tin Mừng luôn nhắm đến sự hiệp nhất của gia đình nhân loại, một sự hiệp nhất không bị áp đặt từ bên ngoài, cũng không bị các quyền lợi ý thức hệ hay kinh tế áp đặt, nhưng trái lại dựa trên tinh thần trách nhiệm hỗ tương, nhờ đó, chúng ta có thể nhìn nhận nhau như là những chi thể trong cùng một Thân Thể, Thân Thể Đức Kitô, bởi vì từ Bí tích Thánh Thể, chúng ta đã học và không ngừng được học biết rằng: chia sẻ, yêu thương là con đường dẫn đến công lý đích thực.
Bây giờ chúng ta hãy trở lại với hành động của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly. Điều gì đã xảy ra vào thời điểm đó? Khi Người nói: “Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em, đây là chén Máu Thầy đổ ra cho nhiều người”, thì chuyện gì đã xảy ra? Trong cử chỉ này, Chúa Giêsu đã báo trước biến cố xảy ra trên đồi Canvê. Vì tình yêu, Người đã chấp nhận toàn bộ cuộc khổ nạn, với sự thống khổ và bạo lực của nó, thậm chí cho đến chết trên thập giá. Khi chấp nhận cuộc khổ nạn theo cách này, Người đã biến nó thành một hành động trao ban. Đây là sự biến đổi mà thế giới cần nhất, để cứu chuộc nó từ bên trong, để mở rộng nó ra các chiều kích của Nước Thiên Đàng.
Vì vậy, Thiên Chúa luôn muốn thực hiện sự canh tân thế giới này trên cùng một con đường mà Đức Kitô đã đi, con đường đó thực sự là chính Đức Kitô. Không có gì là kỳ dị về Kitô giáo. Không có con đường tắt; mọi thứ đều đi qua logic khiêm nhường và kiên nhẫn của hạt lúa mì chịu thối đi để ban sự sống, logic của một đức tin chuyển núi dời non được thực hiện bằng quyền năng dịu dàng của Thiên Chúa. Vì lý do này, Thiên Chúa muốn tiếp tục canh tân nhân loại, lịch sử và vũ trụ qua chuỗi của sự biến đổi mà Thánh Thể là bí tích. Qua bánh và rượu được thánh hiến, trong đó Mình và Máu Người thực sự hiện diện, Chúa Kitô biến đổi chúng ta, nên đồng hình đồng dạng với Người: Người thu nạp chúng ta vào công cuộc cứu chuộc của Người, Người giúp chúng ta, qua ân sủng của Chúa Thánh Thần, được sống trong sự tương hợp với logic tự hiến mình như những hạt lúa mì, được kết hợp với Người và trong Người. Do đó, chúng ta được gieo và tiếp tục trưởng thành trong các luống đất của lịch sử hiệp nhất và hòa bình. Đây chính là mục đích mà chúng ta phấn đấu để phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa.
Chúng ta hãy bước đi mà không ảo tưởng, không theo ý thức hệ không tưởng. Hãy bước đi trên những xa lộ của thế giới và mang trong mình Thánh Thể Chúa, giống như Đức Trinh Nữ Maria trong mầu nhiệm Thăm Viếng. Với sự khiêm tốn biết rằng chúng ta chỉ là những hạt lúa mì, chúng ta hãy giữ vững niềm xác tín vững chắc rằng tình yêu của Thiên Chúa, được nhập thể trong Đức Kitô thì mạnh hơn sự dữ, bạo lực và sự chết. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa chuẩn bị cho tất cả mọi người trời mới đất mới, trong đó hòa bình và công lý ngự trị - và trong đức tin, chúng ta cảm nhận được thế giới mới là quê hương đích thực của chúng ta.
Chiều hôm nay cũng vậy, chúng ta hãy bắt đầu: trong khi mặt trời đang lặn trên thành phố Rôma thân yêu của chúng ta thì Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đang ở cùng chúng ta, Đấng Phục Sinh đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa! Cảm tạ Chúa vì sự trung thành của Chúa đã duy trì niềm hy vọng của chúng con. Xin ở lại với chúng con vì màn đêm đang buông xuống. Lạy Chúa Giêsu là Mục Tử nhân lành, Bánh đích thực, xin thương xót chúng con, bênh vực chúng con, dẫn đưa chúng con tới sự thánh thiện vĩnh cửu, trên niềm đất dành cho kẻ sống!” Amen.
Các bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong Lễ Mình và Máu Chúa Kitô năm A:

1. Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Ðức Giêsu yêu thương Ngài không chỉ ban cơm bánh, tiện nghi, sức khỏe... Một cuộc sống mau qua đời này cho chúng ta: mà còn dành cho chúng ta một nguồn ân sủng vô tận đặc biệt nhất, chính là Mình Máu Ngài làm lương thực nuôi linh hồn ta. Ngài đã yêu và yêu đến cùng. Người Do thái không hiểu Ngài, cũng không hiểu được Lời Ngài vì thế đưa đến mâu thuẫn.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con siêng năng chạy đến với Chúa qua thánh lễ qua bí tích Thánh Thể. Xin cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu bao la của Chúa đã tự hiến vì chúng con. Ðể từ đó chúng con biết múc tình yêu của Chúa trao ban cho tha nhân. Amen.
Ghi nhớ : “Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”. (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Gương sống: Lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể của Chân phước Carlo Acutis

2. Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Đnl 8,2-3.14b-16a
1. Khi Chúa nói với dân Ít-ra-en qua trung gian của ông Mô-sê : “Anh em hãy nhớ lại”, “anh em đừng quên” là Chúa mời gọi họ trở về cội nguồn và đừng quên Giao ước đã ký kết trên núi Xi-nai. Quả thật, khi nhắc lại cho dân kinh nghiệm sống Giao ước, ông gợi lên những biến cố rất cụ thể. “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc.” Chắc chắn ông Mô-sê nói về thời kỳ Xuất hành. Ông nhắc lại tất cả những thử thách dân phải trải qua trong sa mạc : cùng cực, phải đói trong sa mạc mênh mông và kinh khủng, xứ sở đầy rắn lửa và bò cạp, xứ sở khô cằn, không giọt nước. Ông cũng nhắc cho dân nhớ Chúa đã giúp họ vượt thắng những thử thách ra sao : “Người đã cho anh em ăn man-na, là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết. Chính Người đã giúp anh em vượt qua sa mạc. Chính Người đã khiến nước từ tảng đá cứng nhất chảy ra cho anh em uống.” Qua đó, ta biết tất cả các giai đoạn dân Ít-ra-en vượt qua sa mạc Xi-nai mà sách Xuất hành và Dân số đã kể lại. Đó là cái giá phải trả cho sự tự do.
2. Nhưng điều đáng quan tâm ở đây là ông Mô-sê trình bày những thử thách dân Ít-ra-en phải trải qua trong sa mạc là thời gian tinh luyện Chúa đòi hỏi : Những thử thách đủ loại cho ta thấy sự nghèo khổ của dân và việc Chúa luôn quan tâm giúp đỡ dân Người. Nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa, dân Ít-ra-en sẽ chết đói, chết khát giữa sa mạc, hoặc sẽ chết do rắn độc và bọ cạp cắn. Nhưng Thiên Chúa luôn hiện diện và đồng hành với dân và luôn can thiệp đúng lúc để giúp dân vượt qua mọi khó khăn : đó là đường lối sư phạm của Thiên Chúa. “Suy nghĩ lại, anh em phải nhận biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em giáo dục anh em như một người giáo dục con mình” (Đnl 8,5). Tất cả đường lối sư phạm này nhằm một mục đích duy nhất là giúp cho dân Ít-ra-en đừng quên rằng chính Đức Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập.
Chúng ta biết rằng sách Đệ nhị luật viết rất lâu sau khi ông Mô-sê qua đời, vào thời điểm đó, dân Ít-ra-en đã định cư tại Ca-na-an. Điều đáng sợ là họ có thể bị lạc giáo chứ không phải sợ đói khát, hoặc rắn hay bò cạp cắn, vì họ có thể thờ các vị Thần của Ca-na-an. Vắc-xin duy nhất chống lại việc thờ bụt thần này đó là trung thành tuân giữ Giao ước, nghĩa là tuân giữ các điều răn.
 
Đáp ca : Tv 147
Thánh vịnh 147 là thánh vịnh nói về việc phục hưng Giê-ru-sa-lem : “Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa ! Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi !” Câu thánh vịnh nói trên giúp ta xác định thời điểm thánh vịnh này được sáng tác, đó là lúc dân Ít-ra-en trở về quê cha đất tổ sau năm mươi năm lưu đày tại Ba-by-lon vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên. Họ phải tái thiết lại thành phố và xây dựng lại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, mà nếu không có sự hỗ trợ của Thiên Chúa, thì họ không thể làm được. “Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc.”
Trong thánh vịnh trước, thánh vịnh 146, Thiên Chúa được gọi là “Đấng xây dựng lại Giê-ru-sa-lem, quy tụ dân Ít-ra-en tản lạc về” (Tv 146,2). Tuy nhiên, đây không phải thuần tuý là công việc của một kiến trúc sư mà Thiên Chúa thực hiện : cuộc trở về quê cha đất tổ thật sự là một cuộc trở về trong ân sủng. Thiên Chúa đã tha thứ cho dân Người. Sự tha thứ này là một sự tái tạo thật sự dân Ít-ra-en. Thưa anh chị em, hoà bình là từ ngữ mà con người ở bất cứ thời đại nào cũng đều muốn được nghe, nhất là thời đại ngày nay. Đó là ý nghĩa của các câu thánh vịnh chúng ta vừa nghe : “Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình, và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo. Người tống đạt lệnh truyền xuống đất, lời phán ra, hoả tốc chạy đi.” Đó là Thần Khí của Người, lời tha thứ của Người. Trong thời lưu đày ở Ba-by-lon, dân Ít-ra-en đã ăn bánh nước mắt, bánh đắng cay, bánh khổ nhục, còn khi trở về quê cha đất tổ, họ có được mùa gặt bội thu lúa mì tinh hảo : “Ai gieo trong nước mắt, sẽ gặt giữa vui mừng” (Tv 125).
 
Bài đọc 2 : 1 Cr 10,16-17
1. Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe nằm giữa hai lời khuyên của thánh Phao-lô cũng trong chương 10 của thư thứ nhất Cô-rin-tô, ngài khuyên các tín hữu Cô-rin-tô không thoả hiệp với việc thờ ngẫu tượng : “Anh em thân mến, anh em hãy xa lánh việc thờ ngẫu tượng”, và ở cuối chương 10 : “Hay là ta muốn làm cho Chúa phải ghen tuông ?” Hai câu trên đề cập đến cùng một vấn đề. Khi Kinh Thánh nói về sự ghen tuông của Thiên Chúa là luôn nhấn mạnh cần phải tránh xa việc thờ ngẫu tượng. Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phao-lô nhắm đến một vấn đề rất cụ thể, rất rõ ràng. Ki-tô giáo không chấp nhận việc giết các con vật để làm của lễ tiến dâng Chúa, nhưng trong Do-thái giáo và nhiều tôn giáo khác có thói quen này : sau khi sát tế các con vật để tế lễ thì có một bữa tiệc trong chính nơi thờ tự, và khi ăn thịt con vật bị sát tế, họ tin rằng họ sẽ được hiệp thông với các vị Thần. Trong số các anh chị em tân tòng ở Cô-rin-tô, có một số người vẫn còn tham dự các nghi lễ này và tham dự bữa ăn sau nghi lễ nữa. Thánh Phao-lô nói rất rõ với những anh chị em đó, một là hiệp thông với Thiên Chúa Hằng Sống, hai là tìm một sự hiệp thông khác, vì không có chuyện vừa tham dự bàn tiệc của Chúa lại vừa tham dự nghi lễ thờ các Thần khác được. Một vấn đề khác khó hơn. Những phần thịt còn thừa lại của các con vật bị sát tế để dâng cho vị Thần trong các đền thờ được bày bán trong các tiệm bán thịt, người Ki-tô hữu có được phép mua để ăn mà không bị phạm tội thờ ngẫu tượng không ? Vấn đề này đã đầu độc thời kỳ sơ khai của Giáo Hội, và được đề cập nhiều trong sách Công vụ Tông Đồ (chương 15), trong thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma (chương 14 và 15) và trong thư gửi các tín hữu Cô-rin-tô (1 Cr 8 và 10).
2. Đối với một số người thì chuyện đó không có vấn đề gì, vì ngẫu tượng đâu có hiện diện trong các miếng thịt còn dư thừa đó, cho nên người tín hữu có thể mua ngoài chợ và đem về nhà để ăn thịt đã dâng cúng cho các thần linh. Thánh Phao-lô thấy việc đó có thể làm gương mù gương xấu cho các Ki-tô hữu yếu đuối sa ngã, và cả những người ngoại giáo ngạc nhiên khi thấy phạm tội thờ ngẫu tượng. Lý luận của ngài luôn dựa trên cùng một nền tảng : bí tích Mình Máu Thánh Chúa làm cho chúng ta được hiệp thông với Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ đó ta hiểu rõ hơn tại sao thánh Phao-lô nhấn mạnh đến ý nghĩa của bữa tiệc Thánh Thể : “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Ki-tô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ?” Từ thánh Phao-lô dùng (Koinônia trong tiếng Hy-lạp) chỉ một mối liên hệ mật thiết, thuộc về, một sự liên kết sâu xa.
Đức Ki-tô cũng nói về vấn đề này khi dùng từ “giao ước : “Chén này là Giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20 ; Mc 14,24 ; Mt 26,28). Giao ước theo nghĩa Kinh Thánh, là thuộc về nhau, một sự cam kết hỗ tương : công thức quan trọng của Giao ước : “Chúng sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng.”
Nơi Đức Giê-su, chính Thiên Chúa đã hoàn thành Giao ước với nhân loại, nhưng cũng nơi Đức Giê-su, chính nhân loại đón nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và tham gia vào kế hoạch này. Chính Đức Giê-su là Đấng duy trì cuộc đối thoại với Thiên Chúa mà không có bóng dáng ông A-đam, nghĩa là với toàn thể nhân loại. Đó là toàn bộ mầu nhiệm Đức Giê-su vừa là Thiên Chúa vừa là loài người : Nơi Người, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người, và cũng nơi Người, nhân loại đáp lại bằng việc tạ ơn. Nơi Người, Thiên Chúa nói, tự mặc khải (Người là Ngôi Lời, là Lời của Chúa Cha) ; cũng nơi Người, nhân loại đáp lại lời của Chúa ; nơi Người, Thiên Chúa tự hiến ; cũng nơi Người đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Anh chị em biết diễn tiến của toàn thể cuộc cử hành Phụng vụ và đó chính là nơi hoàn thành Giao ước.
Đó là khám phá quan trọng của dân Ít-ra-en : Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác nhưng lại rất gần gũi với chúng ta. Việc đó đạt tới đỉnh điểm trong bí tích Thánh Thể, đối với chúng ta luôn là mầu nhiệm của Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, đồng thời lại cho ta tham dự vào sự thân mật của Người, vào sự sống thần linh của Người : không phải con người tiếp cận Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa trở nên thân cận với con người. Vì thế, bí tích Thánh Thể là bữa ăn hiệp thông như trong tất cả các tôn giáo khác, nhưng chính lễ tế đã thay đổi : lễ tế mà Thiên Chúa chờ đợi, không phải là sát tế một con vật, nhưng chính là cuộc sống của chúng ta, như thánh vịnh 39 đã nói : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến !’” (Tv 39,7). Đó là việc Đức Ki-tô đã làm. Cả cuộc đời của Người chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ anh em mình. Và khi chúng ta tham dự vào bữa tiệc hiệp thông của Thánh Thể, chúng ta liên kết đời sống của chúng ta với đời sống của Người mà dâng lên Chúa Cha. Sự việc còn đi xa hơn nữa. Thánh Phao-lô dám nói rằng chúng ta dự phần vào Thân Thể Đức Ki-tô : “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ?” Nếu chúng ta thật sự nên một với Người, thì từ nay về sau chúng ta sống chính sự sống của Người.
Quả thật, khi ta tham dự vào bí tích Thánh Thể, không chỉ một mình chúng ta tham dự : Đức Giê-su đã nói rõ là Người ban sự sống cho muôn người, và khi Người ban Mình Người làm của ăn, cũng là ban cho số đông. Lúc bấy giờ chúng ta thấy lời sấm của ngôn sứ I-sai-a trở thành hiện thực : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế. Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy. Ngày ấy, người ta sẽ nói : ‘Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.’” (Is 25,6-9).
Cộng đoàn tham dự thánh lễ hiệp ý với chủ tế tuyên xưng “Đây là mầu nhiệm Đức Tin” như là một tiếng dội lại lời sấm xưa của ngôn sứ I-sai-a.
 
Bài Tin Mừng : Ga 6,51-58
1. Sau khi nghe bài diễn từ về Bánh Trường Sinh, Bánh Hằng Sống, nhiều môn đệ đã bỏ Đức Giê-su mà đi, không theo Người nữa, vì họ cho rằng lời của Đức Giê-su nói chướng tai quá, ai mà nghe cho nổi. Lúc bấy giờ Đức Giê-su mới hỏi Nhóm Mười Hai : “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?” Ông Si-môn Phê-rô liền đáp : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Đó là vấn đề nghịch lý của đức tin. Những lời nói trên của Đức Giê-su xét về phương diện nhân loại thì không thể hiểu được, tuy nhiên đó là những lời đem lại sự sống cho chúng ta, tất cả chúng ta phải đi theo con đường thánh Phê-rô đã chọn : sống bằng những lời trên, để những lời trên dưỡng nuôi và thâm nhập chúng ta mà không cần được giải thích. Đó là một bài học quan trọng : chúng ta không tìm những lời giải thích về bí tích Thánh Thể trong các sách vở, nhưng càng sốt sắng tham dự bí tích này, chúng ta được Ðức Ki-tô thu hút chúng ta bước vào mầu nhiệm Sự Sống. Từ ngữ được lặp đi lặp lại rất thường trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, đó là sự sống : “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” Thư gửi tín hữu Híp-ri nói rõ điều đó : “Khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói : ‘Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài’”, và ý của Thiên Chúa là thế gian được sống. Một sự sống là quà tặng : “Bánh tôi sẽ ban tặng.” Tất cả là quà tặng. Ngôn sứ I-sai-a đã công bố : “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây ! Dẫu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào. Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ? Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị. Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít” (Is 55,1-3).
Cái làm cho chúng ta được sống, đó là ân huệ của Đức Ki-tô mà chúng ta gọi là sự hiến tế của Người. Nhưng chúng ta đừng hiểu lầm về ý nghĩa của từ “hiến tế”. Trong Kinh Thánh, nghĩa của từ này thay đổi theo từng giai đoạn : theo phương pháp sư phạm của Thiên Chúa. Lúc khởi đầu lịch sử Kinh Thánh, dân Ít-ra-en thực hành giống như các dân tộc khác, những hiến tế đổ máu, con người và thú vật. Nhưng sau đó, chặng thứ nhất trong đường lối sư phạm của Thiên Chúa là cấm sát tế con người và ngay từ khi Thiên Chúa gặp gỡ dân Ít-ra-en. Chính với ông Áp-ra-ham mà Thiên Chúa đã ra lệnh cấm này : “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó !” (St 22,12). Kể từ ông Áp-ra-ham, lệnh cấm này luôn có hiệu lực. Mỗi khi ai vi phạm, các ngôn sứ đều nhắc nhở rằng việc sát tế con người là một việc làm ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Kể từ thời ông Áp-ra-ham, Kinh Thánh mở ra một chân trời mới (với lễ tế của thượng tế Men-ki-xê-đê) như là một lễ tế kiểu mẫu để dâng lên Thiên Chúa Tối Cao là bánh và rượu (St 14).
Chặng thứ hai, chính ông Mô-sê giúp dân Ít-ra-en tuân giữ mệnh lệnh này của Chúa. Khi tuân giữ những nghi thức tổ tiên để lại, là sát tế các con vật, nhưng ông đem lại cho việc đó một ý nghĩa mới. Từ nay về sau, điều đáng quan tâm là giao ước với Thiên Chúa là Đấng giải thoát. Rồi đến lời giảng dạy của các ngôn sứ : đối với Người, điều quan trọng hơn cả lễ tế, đó là tấm lòng của người dâng của lễ, một tấm lòng biết yêu mến tha nhân, chứ không phải là của lễ đẫm máu tế vật, như ngôn sứ I-sai-a nói : “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn, các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe, vì tay các ngươi đầy những máu.” Khi dâng của lễ, người ta đưa hai tay vấy máu vật sát tế lên, nhưng máu này chỉ làm Thiên Chúa nhớ đến máu người vô tội. Và ngôn sứ Hô-sê nói một câu mà chính Đức Giê-su đã nhắc lại : “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” (Hs 6,6). Ngôn sứ Mi-kha tóm tắt cách tuyệt vời bài học này : “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay : điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8).
Chặng cuối cùng của phương pháp sư phạm này, là các bài ca nổi tiếng về “Người Tôi Tớ” của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Qua bốn bài ca đó, ta biết của lễ thật sự mà Thiên Chúa chờ đợi nơi chúng ta. Đó là hiệp thông với Thiên Chúa sự sống chứ không phải là giết chóc ; đó là sống, là giúp cho người anh em của chúng ta được sống khi trở thành người phục vụ họ.
Tân Ước thường trình bày Đức Giê-su như là Tôi Trung mà ngôn sứ I-sai-a đã công bố. Người đã cho đi tất cả cuộc sống của mình khi bước vào trần gian như thư Híp-ri đã nói. Tất cả cuộc đời của Người là của lễ hoàn hảo mà Kinh Thánh đã cố gắng phác hoạ cho nhân loại : “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi để cho thế gian được sống.” Từ nay về sau, trong sự sống được Đức Giê-su trao ban, chúng ta đón nhận chính sự sống của Thiên Chúa : “Cũng như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Thầy, và cũng như Thầy sống nhờ Chúa Cha, thì người ăn Thầy cũng sẽ sống nhờ Thầy như vậy.” Điều quan trọng nhất đối với chúng ta hiện giờ là đón nhận sự sống mà Thiên Chúa trao ban.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết siêng năng tham dự thánh lễ và sốt sắng rước Chúa với lòng tin cậy mến.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có tham dự thánh lễ đúng như Giáo Hội dạy không : tích cực, sống động và hiệu quả ?
 
BÀI ĐỌC THÊM
1. Ngày nay cũng thế, khi thông hiệp với Đức Ki-tô trong đức tin, người Ki-tô hữu ở trong Người và nhận được sự sống đời đời
(A. March, “Dossier Biblique”, số 41, tr. 13-14).
Khi giảng tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su đã không thể nói rõ cách trực tiếp về Thánh Thể, điều người ta không thể hiểu nỗi trước Bữa Tiệc Ly, trước cái chết và sự sống lại của Người. Cụm từ “bánh sự sống” trước hết là một cách nói về Đức Giê-su như Đấng mặc khải từ trời đến và lời Người là của ăn và của uống : “Hãy đến mà ăn bánh của Ta, và uống rượu do Ta pha chế ! ” (Cn 9,5). Tất cả bài giảng trước hết gợi lên lòng tin vào Đức Giê-su, Đấng mặc khải, nhưng việc thực hiện Thánh Thể cũng lộ ra trong thuật ngữ Ki-tô giáo : “ăn, uống, có sự sống”. Tuy nhiên phần cuối thì trực tiếp chỉ về “Thánh Thể”, chúng ta hãy quan sát.
Thật vậy, từ câu 51, Đức Giê-su gợi lên cái chết của Người như là nguồn sự sống : bánh mà tôi sẽ ban cho, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống. Từ “thịt” làm nhớ đến lời mở đầu : Ngôi Lời đã trở nên người phàm (1,14). Chính việc nhập thể (Incarnation) được diễn tả ở đây, trong giai đoạn kết thúc : cái chết của Đức Giê-su, Ngôi Lời trở nên thịt (xác phàm), thịt làm thành của ăn. Giữa việc nhập thể, cái chết và Thánh Thể có một sự liên tục. Ngày nay Đức Giê-su vắng mặt trong thân thể Người, sự mặc khải của Người vẫn còn đó và Thánh Thể là trọng tâm mà loài người được mời gọi, cùng với cơ may cũng như rủi ro bị từ chối như vào thời Đức Giê-su vậy : Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi ! (6,60).
Ở câu 53-56, thay vì động từ “ĂN”, thánh Gio-an dùng một từ rất mạnh : “nhai, cắn”. Có lẽ là để nhấn mạnh đến tính hiện thực của Thánh Thể. Thật vậy, một số Ki-tô hữu, những người thuộc phái ngộ đạo, từ chối sự trung gian thể chất của các bí tích để kết hiệp với Đức Giê-su, cũng như họ từ chối không tin sự hiện hữu của nhân loại tính trong Đức Giê-su, đến trong xác thịt (1 Ga 4,2). Nhưng vì thế, để sự trung gian của bánh không phải là ma thuật : “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì” (Ga 6,63). Thánh Thể, Mình Máu thông ban cho tín hữu ơn mà những người đồng thời với Đức Giê-su tìm kiếm : sự sống vĩnh cửu từ bây giờ và mãi mãi, ở với Đức Giê-su. Hôm nay cũng vậy, người Ki-tô hữu thông hiệp với Đức Giê-su trong đức tin, ở với Người và có sự sống đời đời.
 
2. “Cao quý thay mầu nhiệm Đức Tin”
(Mgr. L. Daloz trong “Chúng ta đã thấy vinh quang Người”, Desclée de Brouwer, tr. 87-88).
Đức Ki-tô phải mời gọi chúng ta đặt mình vào đỉnh cao của đức tin để mặc khải cho chúng ta về mầu nhiệm Đức Tin. Chúa nhắc lại lời khẳng định đã đưa đến những lời “xì xầm” : “Ta là bánh ban sự sống.” Người bác lại lời bắt bẻ về man-na mà người ta nại ra để chống lại Người : “Trong sa mạc, cha ông các người đã ăn man-na và đã chết, cho nên chưa phải là thứ bánh ban sự sống. Trái lại, ai ăn bánh bởi trời sẽ không hề chết bao giờ : ai tin và ăn bánh này sẽ sống muôn đời.” Và đây là lời tuyên bố gây vấp phạm … “Bánh mà tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống …”
Tuy nhiên trước sự chống đối, Chúa Giê-su chẳng những không dịu giọng mà trái lại còn nhấn mạnh bằng bốn câu rất rõ ràng và thực tế : “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người … ai ăn thịt và uống máu tôi … thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống… Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy …”. Không có lối thoát nào cả, không có cách nào khác để có sự sống, có sự phục sinh để ở trong Người. Không thể rõ ràng hơn được nữa. Hòn đá, vật chướng ngại, chính là hòn đá gốc để các môn đệ được sống, hòn đá thử thách của sự thật về đức tin. Như thế, Thánh Thể cắm sâu vào trung tâm của hiện hữu Ki-tô giáo. Trong bóng tối của mầu nhiệm, những ai muốn có sự sống phải hướng về đó, vì đó là của ăn để sống : bánh bởi trời là như thế : rất khác với thứ bánh mà cha ông các ngươi đã ăn, họ đã chết, nhưng ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Không một lời diễn giảng, tác giả Tin Mừng kết thúc đơn sơ : Đó là những lời dạy của Đức Giê-su trong hội đường Ca-phác-na-um. Đó là cách bánh hằng sống và chén cứu độ được đặt vào tay chúng ta không một lời giải thích nào. “Cao cả thay mầu nhiệm Đức Tin.”
 
3. “Hai bàn tiệc”
(J. Perron, trong “Đọc Kinh Thánh”, số 52, tr. 139-140).
Nếu tách rời những câu trước với đoạn văn này, sẽ đi đến nguy hiểm là làm nghèo nàn đi, hơn nữa làm sai nghĩa về lời dạy về Thánh Thể của thánh Gio-an. Những gì nói về bí tích phải để mở ra một nhãn quan rộng hơn, nhiều hơn những gì nói trong bài thuyết giảng. Nếu Đức Giê-su là bánh ban sự sống trong Thánh Thể, là bởi trước hết Người là bánh cho những ai tiếp nhận lời Người và chứng của Người, và vì thế phần đầu chỉ nói đến người “tin vào”, phần hai nói đến người “tin-hiệp-thông”, nhưng hai phần, phần nào cũng không thể thiếu, bởi lẽ không thể nói đến “người hiệp thông” mà trước hết người ấy không phải là kẻ tin, nếu không có sự khẳng định ở câu 47 thì câu khẳng định 54 chẳng có nghĩa gì, hay là dẫn đến tình trạng làm cho Thánh Thể chỉ là một nghi lễ ma thuật. Thánh Tô-ma A-qui-nô nhắc nhở rằng mọi bí tích đều là “bí tích đức tin” (sacra menta fidei).
Cuối cùng nếu đức tin có thể bỏ qua bí tích (không nói đến rước lễ thiêng liêng hay rửa tội bằng lòng muốn), thì bí tích không thể có nếu không có đức tin. Đức tin là sự kết hợp đầu tiên với Đức Ki-tô, phải đi trước nghi lễ bí tích và hướng về đó (A. Feuillet).
Sự trình bày về Thánh Thể này cũng mời gọi chúng ta, như các cải tổ Công Đồng đã làm, tìm lại chỗ đứng của Phụng vụ Lời Chúa đi trước và chuẩn bị cho nghi lễ bẻ bánh trong các cử hành của chúng ta – cả hai phải kết hợp với nhau cách sâu xa như hai đoạn của bài giảng thuyết của thánh Gio-an. Các tác giả Ki-tô giáo xưa đã hiểu như thế khi họ nói đến “hai bàn tiệc” trong Giáo Hội : “Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể”.
Có lẽ vì thế mà sinh ra những hậu quả đáng giận của phong trào Cải cách : sự chia cắt mà người ta có thể diễn tả một cách hài hước : người Tin Lành thì ra khỏi cửa với cuốn Kinh Thánh trong túi và người Công Giáo đi ra mang theo Mình Thánh Chúa. Lời dí dỏm trên đây, nếu có thể nói lên một cái gì về thực tế của sự kiện, thì phải nói rằng cả hai cộng đồng, mỗi bên chỉ giữ cho mình một nửa mầu nhiệm Thánh Thể, một phần của bài giảng thuyết trên chủ đề “bánh ban sự sống”.

3. Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Thánh lễ là Bàn tiệc. Rước lễ là ăn uống chính Mình và Máu Thánh Chúa, thứ lương thực tuyệt hảo nuôi sống và bổ dưỡng linh hồn chúng ta. Nếu linh hồn chúng ta yếu, Mình Máu Thánh Chúa sẽ bổ sức cho mạnh; nếu ta đang chán nản, Chúa sẽ ban lại cho ta niềm hy vọng; nếu chúng ta cảm thấy người khác khó thương, Ngài sẽ ban thêm cho ta lòng mến.
Chúng ta hãy sốt sắng tham dự Thánh Lễ này, nhất là sốt sắng rước Chúa vào lòng để cho Ngài nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta lo tìm lương thực phần xác hơn là lương thực phần hồn.
- Chúng ta cùng tham dự một bàn tiệc Chúa, cùng ăn một thứ lương thực là Mình Máu Chúa, nhưng chúng ta không đoàn kết yêu thương nhau.
- Chúng ta được nuôi dưỡng bằng bánh bởi trời, nhưng chúng ta còn quá lo lắng trước những khó khăn trần thế.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I: Đnl 8,2-3,14-16
Cuối cuộc hành trình trong sa mạc và trước khi bước vào Đất hứa, Môsê khuyên bảo dân đừng bao giờ quên những ơn lành Chúa đã ban cho họ, đặc biệt Ngài đã nuôi sống họ bằng Manna từ trời rơi xuống và nước từ tảng đá vọt ra.
2. ĐÁP CA: Tv 147
Thánh vịnh này kêu gọi tín hữu ca tụng Thiên Chúa vì biết bao ơn lành Ngài ban xuống cho họ.
3. Bài đọc II: 1 Cr 10,16-17
Thánh Phaolô nhắc tín hữu Côrintô ý thức rằng vì họ cùng ăn một bánh và cùng uống một chén nên họ không được chia rẽ, trái lại phải đoàn kết yêu thương nhau.
4. Tin mừng: Ga 6,51-58
Đây là bài diễn từ của Đức Giêsu sau phép lạ hóa bánh ra nhiều. Dân chúng đã được ăn no nê thừa thãi thư bánh vật chất mà Ngài vừa làm phép lạ cho có nhiều. Bây giờ Ngài hướng họ đến một thứ lương thực cao quý hơn, đó chính là Mình và Máu Ngài: “Tôi là bánh trường sinh… Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi, để cho thế gian được sống…Ai ăn thịt và uống máu tôi thì sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết”.
 

4. Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

BÁNH HẰNG SỐNG BỞI TRỜI
+++
A. DẪN NHẬP
  Mặc dầu ngày thứ năm tuần thánh, Giáo hội đã kỷ niệm việc Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể, để làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta, hôm nay Giáo hội tiếp tục cử hành lễ kính Mình Máu thánh Chúa Kitô, để giáo dân có nhiều thì giờ suy niệm về phép Thánh Thể, thúc giục giáo dân thêm lòng yêu mến tôn sùng. Qua Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta được hiểu biết tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể này, đồng thời thúc giục chúng ta năng rước lễ, để lãnh nhận Chúa Giêsu làm lương thực nuôi linh hồn chúng ta trên bước đường đi về Quê trời.
  Qua các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta thấy Thánh Thể thực sự đã được loan báo từ trước bằng những hình ảnh. Manna mà Thiên Chúa ban cho dân Israel dùng trong sa mạc suốt bốn mươi năm chẳng phải là hình bóng phép Thánh Thể mà Đức Giêsu đã lập sao? Thánh Phaolô cũng nhắc lại cho tín hữu Côrintô tư tưởng trên: dân Israel đã được ăn Manna, uống nước từ tảng đá… để nói lên rằng: toàn dân Israel đã được thừa hưởng bao hồng ân của Thiên Chúa.
  Lời Chúa trong đoạn Tin mừng thánh Gioan là những lời Đức Giêsu diễn giảng về Bánh hằng sống, Bánh từ trời, Bánh ban sự sống thần linh. Bánh đó chính là Đức Giêsu Kitô. Thịt máu Ngài đã trở nên cơm bánh, trở thành lương thực, trở thành của ăn của uống giúp con người đi vào thế giới của Thiên Chúa kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Bánh này trổi vượt hơn Manna trong sa mạc mà tổ tiên dân Israel đều đã được ăn. Vì thế ai ăn bánh này sẽ được sống vĩnh cửu trong Vương quốc của Thiên Chúa.
  Trung tâm đời sống Kitô hữu là Thánh Thể, mà Thánh Thể là một nhiệm tích tuyệt diệu làm cho Đức Kitô hiện diện thực sự với dân chúng trong mầu nhiệm Vượt qua. Trong bữa ăn sau hết, chính Ngài bị nộp, Ngài đã thiết lập hiến tế tạ ơn bằng Mình và Máu Ngài. Hiến tế của Tình yêu. Hiến tế của hiệp nhất, giây liên kết đức bác ái, bữa tiệc Vượt qua trong Đức Giêsu là của ăn. Xét theo phương diện này, hôm nay ngày lễ kính Mình Máu Chúa Kitô, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm nhiệm tích Thánh Thể là lương thực nuôi linh hồn vì Đức Giêsu đã nói với chúng ta: “Ta là bánh hằng sống từ trời ban xuống” (Ga 6,51).      
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Đnl 8,2-3.14-16
  Thiên Chúa đã cứu dân Israel ra khỏi ách nô lệ của Ai cập, dẫn dắt họ suốt 40 năm trường trong sa mạc để vào Đất hứa. Kết thúc cuộc hành trình, trước khi tiến vào Đất hứa, ông Maisen khuyên bảo dân đừng bao giờ quên những ơn lành Thiên Chúa đã ban cho. Trong số những ơn lành Chúa đã ban, dân Chúa hãy nhớ lại việc Thiên Chúa đã nuôi sống họ, bằng cách ban Manna từ trời xuống và cũng làm cho nước từ tảng đá vọt ra để thỏa mãn cơn khát khao.
  Nhưng đấy mới chỉ là thức ăn vật chất nuôi phần xác thôi, còn cần phải có một thức ăn thiêng liêng khác là Lời Chúa và Thánh Thể nuôi sống linh hồn loài người nữa.
+ Bài đọc 2: 1Cr 1o,16-17
  Nhận thấy trong cộng đoàn tín hữu ở Côrintô có sự bất hòa, chia rẽ, thánh Phaolô khuyên nhủ họ hãy đoàn kết lại, hiệp nhất trong tình yêu thương. Ngài cho biết: Thánh Thể chính là mối dây tuyệt hảo của sự hiệp nhất. Khi chúng ta hiệp thông với Mình và Máu Chúa Kitô, cùng ăn một bánh, cùng uống một chén thì chúng ta cũng phải thể hiện sự hiệp thông ấy ra trong đời sống cộng đoàn bằng cách phải hiệp nhất với nhau. Cũng như chỉ có một tấm bánh, chúng ta tuy nhiều người cũng chỉ là một thân thể.
+ Bài
Tin mừng: Ga 6,51-58
  Dân chúng say mê nghe Chúa giảng, không nghĩ đến ăn uống. Thấy họ đói, Chúa Giêsu đã nuôi sống họ bằng cách làm cho bánh hoá nhiều. Dân chúng được ăn no nê thừa thãi thứ bánh vật chất, mà Ngài vừa làm phép lạ cho có nhiều. Bây giờ Chúa muốn đưa họ đến một thứ lương thực cao quý hơn. Vì thế, Ngài loan báo cho họ một thứ bánh khác. Bánh đó chính là Mình Máu Ngài, Bánh hằng sống mang lại ơn cứu độ cho thế gian.
  Chúa Giêsu đã khẳng định mặc dầu người ta không hiểu cũng như không muốn hiểu: “Ta là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời, và bánh Ta sẽ ban tặng, chính là thịt Ta đây, để cho thế gian được sống... Ai ăn thịt và uống máu Ta thì sẽ được sống muôn đời, và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚAThánh Thể, nguồn sống thiêng liêng
  Trong lời mở đầu của thông điệp về Bí tích Thánh Thể “ECCLESIA DE EUCHARISTIA”, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã xác tín “Giáo hội múc nguồn sự sống từ Bí tích Thánh Thể. Sự thật này không đơn thuần diễn tả một kinh nghiệm thường nhật của đức tin, nhưng tóm kết cốt lõi của mầu nhiệm Giáo hội. Trong niềm hân hoan, Giáo hội kinh nghiệm, dưới nhiều hình thức, sự thực hiện liên lỉ lời hứa “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Kể từ ngày Lễ Ngũ tuần, Giáo hội bắt đầu cuộc hành trình đi về Quê trời, bí tích thần thiêng tiếp tục ấn dấu trên ngày sống, bằng cách tuôn đổ trên họ niềm hy vọng tin tưởng”.
  Công đồng Vatican II tuyên bố cách xác đáng rằng: “Mọi Bí tích đều liên hệ và hướng về Thánh Thể. Vì phép Thánh Thể chứa mọi kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, nghĩa là chính mình Chúa Kitô Phục sinh. Phép Thánh Thể là nguồn suối, là chóp đỉnh việc rao giảng Tin mừng” (P.O, số 5).
  Thánh Thể đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống Giáo hội và giáo dân, nên Giáo hội lập ra lễ kính Thánh Thể để thúc giục giáo dân gia tăng lòng tôn sùng phép Thánh Thể. Lễ kính này đã manh nha ở thành phố Liège bên Bỉ với những ơn lạ của chị dòng Juliana về phép Thánh Thể từ năm 1208 cho mãi đến năm 1263 với phép lạ máu Chúa chảy loang thấm ướt khăn thánh ở làng Polsena bên Đức. Ngày 8/9/1264, Đức Thánh Cha Urbanô ban sắc lệnh Transiturus lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa Kitô trên khắp hoàn cầu.
I . THÁNH THỂ, NGUỒN SỐNG CỦA KITÔ HỮU
  Con người có hồn có xác. Cả hai liên kết chặt chẽ với nhau. Muốn sống cần phải có ăn, không ăn thì chết. Nhưng hồn và xác lại có những của ăn khác nhau. Xác cần có của ăn vật chất, hồn lại có của ăn thiêng liêng là chính Mình Máu thánh Chúa Kitô như lời Ngài đã dạy.
1. Của ăn thể xác
  Người ta thường nói: “Có thực mới vực được đạo” (Tục ngữ). Nói như thế có nghĩa là phải có của ăn phần xác nuôi sống đã, phải sống đã rồi mới có thể thực hiện việc đạo nghĩa được. Nhiều người nói quả quyết hơn: “Dĩ thực vi tiên”: phải lấy cái ăn làm đầu. Câu tục ngữ trên cũng có nghĩa tương đương với câu ngạn ngữ La tinh: “Manducare priusquam philosophare”: ăn đã rồi hãy nói triết lý, vì không có ăn thì lấy hơi đâu mà nói triết lý?
  Bất kỳ ai cũng phải ăn, không ăn nhiều thì ăn ít. Càng ăn nhiều thức ăn có độ dinh dưỡng cao thì người càng mập, béo, khoẻ mạnh. Ăn uống thiếu chất dinh dưỡng thì người sẽ gầy còm, ốm o.
  Trung bình mỗi người lớn một ngày phải được cung cấp 2.600 calories, nhưng trong thực tế, trừ một số nước tiên tiến mỗi ngày được cung cấp tới 3,130 calories, khiến con người họ to cao, béo mập; còn đa số dân chúng ở các nước kém mở mang chỉ được cung cấp dưới mức trung bình ấy. Một số nước mỗi người chỉ được cung cấp 1.700 calories mỗi ngày, và tệ hơn nữa, một số nước ở Phi châu chỉ được cung cấp 1.200 calories mỗi ngày. Theo tin tức của đài truyền hình cho biết: tính từ năm 1975 đến nay, chiều cao của trẻ em Việt Nam đã tăng thêm được vài centimét.
  Trong kinh “Lạy Cha” chúng ta vẫn cầu xin Chúa cho chúng ta có của ăn hằng ngày: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”. Lương thực đây phải hiểu là lương thực của phần xác và phần hồn. Nhưng dù sao chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta có của ăn của để, đừng để chúng ta thiếu thốn quá mà bỏ bê việc đạo.
  Người Việt Nam chúng ta rất thực tế, không ước ao được giàu sang phú quý đến mức dư dật, vì như thế có thể làm cho người ta dễ hư hỏng hoặc làm cho người ta thêm lo lắng đêm ngày:
Ăn cơm với thịt bò thì lo ngay ngáy,
Ăn cơm với cáy thì ngáy o o.

  Trong thực tế của đời sống hằng ngày, họ chỉ cần hai chữ “bình an”, họ chỉ ao ước được hưởng những hạnh phúc thông thường, như thế họ đã mãn nguyện:
Ăn được ngủ được là tiên,
 Không ăn không ngủ mất tiền thêm lo (Ca dao)

2. Của ăn phần hồn
  Nếu chúng ta nói: thân xác phải ăn thì mới sống được, chúng ta phải nói thế nào về phần hồn? Dĩ nhiên, linh hồn cũng phải ăn thì mới sống được, nhưng của ăn nuôi sống linh hồn không phải là của ăn vật chất như cơm bánh hằng ngày ta ăn, mà là của ăn thiêng liêng. Nói khác đi, của ăn đó chính là Mình máu Chúa Kitô.
  Trong sa mạc, dân Israel đã được ăn Manna hằng ngày để nuôi thể xác. Chúa Giêsu cũng làm phép lạ cho bánh hoá nhiều, để nuôi phần xác cho dân chúng khi đói. Ngoài bánh ấy ra, Chúa Giêsu còn hứa sẽ ban cho họ thứ bánh khác, không phải là thứ bánh họ đã ăn, bánh này ăn vào sẽ không bao giờ đói nữa: “Ta là bánh hằng sống, ai đến cùng Ta không khi nào đói, ai tin kính Ta chẳng bao giờ khát “(Ga 6,35). Ngài hứa ban bánh hằng sống, dân chúng ước ao ăn bánh này cho khỏi đói khát nữa. Nhưng Chúa Giêsu còn muốn đưa họ lên cao hơn, Ngài muốn nói về một thứ bánh hằng sống chân thật, đó là chính Thịt Máu Ngài.
  Mặc dầu Ngài nói như thế, người ta sẽ không tin, còn làm cớ vấp phạm cho nhiều người, đến nỗi có nhiều người bỏ đi vì thấy nó chói tai quá, kể cả môn đệ cũng có một số bỏ đi. Tuy thế, Ngài cứ nói, nói một cách thẳng thừng: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi không ăn thịt và uống máu Con người thì các ngươi chẳng được sống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ được sống đời đời, và Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết” (Ga 6,54-55).
  Để bảo tồn sự sống, mọi sinh vật phải có thức ăn thích hợp với bản tính riêng. Linh hồn chúng ta đã được thuần hoá, nên cũng cần có một thức ăn thích hợp với nếp sống mới đó. Thức ăn này phải là do việc thông hiệp vào thịt máu Chúa Giêsu ban cho: “Ta là bánh hằng sống. Các ngươi hãy cầm lấy mà ăn vì này là mình Ta. Các ngươi hãy lãnh nhận mà uống, vì này là máu Ta. Ai ăn mình và uống máu Ta sẽ được sống. Vì mình Ta thực là của ăn, máu Ta thật là của uống”.
  Ai lãnh nhận mình máu Chúa Kitô, người ấy được kết hợp với Chúa, được tan biến trong Chúa để cả hai nên một, để người ấy có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
  Trong khi rước lễ, chúng ta coi mình như đón nhận Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ngự vào lòng tôi. Chúng ta nói về sự hiệp lễ như là ôm ẵm Chúa. Nhưng hiệp lễ cũng có nghĩa là Chúa ôm ẵm chúng ta. Chúa Giêsu đón nhận chúng ta vào lòng Ngài cách đặc biệt. Không chỉ là Chúa Giêsu ngự trong chúng ta, mà chúng ta cũng ở trong Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa của điều Chúa nói với chúng ta trong Tin mừng hôm nay: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy”. Chúng ta có thể nói như thánh Inhaxiô: “Đây là nơi Chúa Giêsu bồng ẵm tôi”.
  Thánh Cyrillô thành Alexandria so sánh sự hiệp nhất này với hai miếng sáp ong hòa lẫn với nhau. Thánh Têrêsa thành Lisieux đã diễn tả sự hiệp lễ lần đầu của ngài như là sự tan hoà với Chúa Kitô.
  Chúng ta hãy suy nghĩ điều này và bắt đầu nhận thức rằng sự quan trọng không phải là tình yêu, lòng khao khát hay những lời cầu nguyện của chúng ta, mặc dầu tất cả cần phải có. Sự quan trọng nhất là tình yêu vô biên của Chúa Giêsu. Ngài ước mong ôm ẵm chúng ta, chia sẻ chính đời sống Ngài cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta ở lại trong Ngài như chúng ta muốn Ngài ở lại trong chúng ta (GM Arthur Tonne, Bài giảng Tin mừng CN năm A, tr 79).
  Mỗi khi rước Chúa ngự vào lòng, chúng ta muốn được hòa tan trong Chúa, muốn được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, muốn được đổi mới con người của mình. Dĩ nhiên, sự đổi mới này chỉ có tính cách thiêng liêng, nghĩa là linh hồn chúng ta được đầy tràn ơn Chúa, được trở nên thánh thiện hơn, làm chiếu toả Chúa ra bằng cách sống hằng ngày, còn thân xác chúng ta thì không có gì thay đổi.
Truyện: Biến đổi trong Chúa
  Một người ngoại giáo hỏi người bạn Công giáo:
 - Người Công giáo các bạn ăn Chúa Kitô phải không?
 - Vâng, người Công giáo trả lời.
  Người kia hỏi tiếp:
 - Vậy sao các bạn không trở nên như Chúa?
  Một lát sau, khi đi ngang qua trại heo, người Công giáo hỏi:
 - Bạn có khi nào ăn thịt heo không?
 - Rất nhiều lần. Mà hỏi làm gì vậy?
 - Sao bạn chưa biến đổi thành heo?
  Đó là câu trả lời cứng cỏi, nhưng kiến hiệu cho câu hỏi cứng cỏi. Trong thực tế, chúng ta được biến đổi trong Chúa cách thiêng liêng nhờ sự rước lễ. (GM Arthur Tonne, Góp nhặt, tr 8-9)
II. THÁNH THỂ LÀ MỘT MẦU NHIỆM.
  Trong Thánh lễ, ngay sau truyền phép Mình thánh, Linh mục đã nhắc nhở cho giáo dân: “Đây là mầu nhiệm đức tin”. Hội thánh muốn nhắc nhở cho giáo dân: Thánh Thể là một mầu nhiệm, không trí khôn nào có thể suy thấu, chỉ dùng con mắt đức tin mà chấp nhận. Với con mắt xác thịt, không ai có thể trông thấy Chúa trong hình bánh hình rượu với cả mình và máu, nhân tính và thần tính của Chúa Giêsu, nhưng không thấy không có nghĩa là không có. Như kinh nghiệm cho chúng ta thấy: ban ngày người mù đâu có thấy ánh sáng, nhưng không thấy ánh sáng thì không thể phủ nhận được sự hiện hữu của mặt trời. Mặt trời vẫn có đó.
  Sau khi truyền phép Mình thánh, bánh và rượu đã trở nên mình máu Chúa Kitô. Cả con người của Chúa Giêsu ở trong đó: thịt và máu, nhân tính và thần tính. Chúa Giêsu đang hiện diện trong hình bánh hình rượu.
  Chúng ta phải phân biệt hai sự hiện diện:
- Hiện diện tượng trưng (Presentia symbolica)
- Hiện diện thực sự (Presentia realis).
1. Hiện diện tượng trưng
  Là tin rằng Chúa Giêsu hiện diện trong hình bánh, coi như Ngài hiện diện trong đó, nhưng thực sự không có thịt máu Ngài trong đó. Như thế là chối bỏ sự biến thể (transubstantiation) mà Giáo hội dạy: sau truyền phép thì bánh rượu chỉ còn hình dáng bề ngoài (species), còn bản thể (substantia) đã trở nên mình máu Chúa Kitô rồi. Đối với sự hiện diện tượng trưng này, mọi người dễ hiểu, dễ chấp nhận vì nó phù hợp với sự hiểu biết của lý trí con người, không cần dùng đến con mắt đức tin.
2. Hiện diện thực sự
  Đây là vấn đề gai góc. Hiện diện thực sự là có sự hiện diện thực của Chúa Giêsu với mình và máu, với nhân tính và thần tính của Người. Cả con người của Ngài hiện diện trong đó mặc dầu con mắt xác thịt chúng ta không thấy. Đây thực sự là mầu nhiệm đức tin.
  Theo cuộc thăm dò ý kiến của Gallup tường trình cho biết, chỉ có 1/3 giáo dân Công giáo Hoa Kỳ tin có sự hiện diện thật của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, số khác chỉ tin Bí tích Thánh Thể là biểu tượng cho sự hiện diện thật của Chúa Kitô.
  Phản ứng trước cuộc thăm dò này, các Giám mục Hoa Kỳ đã nhắc lại một thông tư trong hội nghị hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 6/2001 “Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể: Những câu hỏi và trả lời căn bản”. Trong bản văn này xác định lại một lần nữa trong Bí tích Thánh Thể “toàn thể con người Đức Kitô thật sự hiện hữu dưới hình thức bánh và rượu, thân xác, máu, linh hồn và thần linh”.
Truyện: Hiện diện thực sự.
  Một linh mục và một mục sư Tin Lành ở cùng một tỉnh thường nói chuyện với nhau nhiều về đạo. Thời gian trôi qua, mục sư bắt đầu tin những chân lý của đạo Công giáo dần dần. Ông tin hết mọi chân lý, trừ có một – chân lý Chúa ngự thật trong phép Thánh Thể. Chân lý duy nhất này ông không thể nào tin được. Ông vẫn nói: “Nếu tôi có thể tin được rằng tôi rước lấy Chúa thực sự khi chịu lễ, thì chắc là tôi sẽ hạnh phúc nhất trên đời; nhưng xem chừng tôi không thể tin được”.
  Ít lâu sau, vị mục sư đau nặng, Linh mục đến thăm ông, nhưng ông mê man bất tỉnh. Quỳ gối bên giường, linh mục cầu xin Chúa ban cho mục sư tỉnh lại và lời cầu nguyện của ngài đã được Chúa nghe. Vị mục sư hấp hối đó mỉm cười và xin được phép ngồi lên, tựa lưng vào gối. Ông có thể tiếp tục nói, nhưng mắt ông nhìn chòng chọc vào cái gì ở chân giường. Ông chỉ tay, nhưng vị linh mục không trông thấy gì cả. Rồi người hấp hối cứ nhìn chòng chọc và bỗng nhiên mặt ông tươi lên như hoa. Ông vừa thở hổn hển vừa phều phào: “Hiện diện thực sự – Nếu tôi được biết kịp thời thì chắc tôi đã giảng cho toàn thế giới chân lý này”. Nói rồi, ông nhắm mắt thở hơi cuối cùng (W.J. Diamond, Đồng cỏ non, 1968, tr 161-162).
  Chúng ta may mắn vì được Chúa ban đức tin ngay từ khi mới sinh. Những người khác thường phải chiến đấu lâu ngày lâu tháng mới tin được những điều chúng ta không phải khó lòng gì mà đã tin.
  Bí tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu. Dấu chỉ tuyệt diệu nhất của tình yêu Thiên Chúa là sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ duy nhất của chúng ta – nơi BÍ TÍCH THÁNH THỂ. “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để những ai tin vào Người thì không bị hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
  Thiên Chúa yêu chúng ta nên đã ban cho chúng ta Chúa Giêsu Kitô; Chúa Giêsu Kitô yêu chúng ta nên đã “chấp nhận thân phận tôi đòi” (Phl 2,7), đã chịu nạn, chịu chết và phục sinh vinh hiển để đem lại sự sống cho chúng ta, Ngài còn “Ở lại cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20) nơi Bí tích Thánh Thể; tất cả chỉ vì yêu chúng ta.
 

5. Suy niệm (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

Thánh Thể Là Trung Tâm Đời Sống Kitô Hữu
Đức cố Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận đã từng nói: Tôi mơ ước, Tòa Thánh cùng với tất cả các cơ quan của mình, như một bánh thánh lớn, một chiếc bánh duy nhất được dâng hiến trong hy tế thiêng liêng, giữa lòng Giáo Hội như một nhà Tiệc Ly rộng lớn... Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần tôi được dịp giang tay đóng đanh chính mình vào Thập giá với Chúa Giêsu, cùng cạn chén đắng với Ngài... Dù thiếu tất cả, dù mất tất cả, nhưng còn Thánh Thể là còn tất cả vì con có Chúa Thiên Đàng dưới đất... (Trích Bài Thuyết Trình tại Đại Hội Thánh Thể thế giới, Mexico 2004).
Phúc Âm kể lại: Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: “Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống” (Mt 26, 26-29; Lc, 22, 14-20). Chúa đã lập bí tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
Tiệc Thánh Thể được chính Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum, được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau thật tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu. Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau. Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.
Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập Giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.
Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo Hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh là thân mình Đức Kitô (1Cr 10,17).
Giáo Hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, khi linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép, bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo Hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục Truyền Phép: “Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II). “Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III). “Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).
Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo Hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18,20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh Thánh, Lời Kinh Thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống...” (Mt 25,35-36). Trái lại, nơi bí tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong bí tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc Lời Truyền Phép (x. simonhoadalat.com, Mục Thần học, Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc).
Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. “Thiên Chúa đã yêu thế gian nỗi ban chính Con Một...” (Ga 3, 16) và Con Một là Đức Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.
Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hằng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.
Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa.
ĐHY FX Nguyễn Văn Thuận viết: ”Con muốn hỏi: ‘Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?’. Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá” (Đường Hy Vọng #349); “Muốn tin, phải nuôi mình bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘Mầu nhiệm Đức tin’ và ban sức mạnh đức tin cho con”. (Đường Hy Vọng #373); ”Biết giá trị Thánh lễ, dù xa dù khó con cũng cố gắng tham dự. Càng hy sinh con càng thấy mến Chúa hơn” (Đường Hy Vọng #346); ”Dù cô đơn nơi đèo heo hút gió, dù tăm tối trong ngục tù, con hãy hướng về các bàn thờ trên thế giới, nơi Chúa Giêsu đang tế lễ; con dâng lễ và rước lễ thiêng liêng. An ủi và can đảm sẽ tràn ngập lòng con” (Đường Hy Vọng #364).
Louis, vị hoàng đế nước Pháp, một vì hoàng đế tốt lành, một người rất siêng năng làm việc. Vua đam mê hoạt động. Vậy mà vua vẫn tìm thời giờ để dự hai ba Thánh lễ mỗi ngày. Mấy người cận thần của vua nói: “Hoàng thượng đã đóng thuế quá nhiều cho những Thánh lễ”. Ngài trả lời: “Nếu ta dành thời giờ săn đuổi những thú vui, tham dự những bữa tiệc linh đình với bạn bè, coi hát mỗi ngày, có thể các người than phiền rằng ta đã dành thời giờ quá nhiều cho những thú vui đó. Nhưng các bạn tốt của ta ơi. Các ngươi quên rằng ta dự Thánh lễ mỗi ngày không phải chỉ để cầu nguyện cho bản thân ta mà còn cầu cho cả đất nước của ta, vì ngoài những Thánh lễ ra ta không còn cách nào khác tốt hơn là chuyện đó”.
Thánh Louis đã ám chỉ, hàng ngàn người Công giáo: “Họ có thể dự Thánh lễ mỗi ngày nhưng họ không làm. Nếu họ hy sinh chút ít thời giờ đi lễ, họ có thể lãnh nhận được vô vàn ân sủng ngoài sự tưởng tuợng của họ. Thật không hiểu được, không thể giải thích tại sao bao người Công giáo không chịu dự lễ mỗi ngày để lãnh nhận bao ân huệ từ trời cao, vì dự một Thánh lễ giá trị cả ngàn ngày cho họ. Họ không hiểu được bao ơn huệ tuyệt vời và những ích lợi mà họ lãnh nhận được qua Thánh lễ”.
Tham dự Thánh lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ bí tích Tình Yêu.
 

6. Suy niệm Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện
Ngày 7/12/1988: Động đất 6,8 độ richter ở Armenia đã ập tới, và trong chốc lát, mọi thứ đều đổ nát, gây ra cảnh tang thương cho hàng ngàn người. Trong số những nạn nhân được các đội cứu nạn tìm thấy từ những đống đổ nát, có một phụ nữ bị chôn vùi trong đống bê tông cùng với đứa con bé bỏng mới vài tháng tuổi. Nhờ những chênh vênh của đống bê tông đổ nát mà chị bị kẹt ở giữa chị mới có thể cựa quậy với đôi tay ôm đứa con nhỏ. Vài ngày trôi qua, chị vẫn không thấy gì nơi việc cứu hộ, chị không biết thế giới bên ngoài thế nào hay tất cả đều bị chôn vùi. Chị nghĩ: Có lẽ chị sẽ chết, chết vì kiệt sức, vì đói, vì khát và vì vết thương, đứa con bên chị nhờ sự che chở của mẹ có lẽ không hề hấn gì, bé cất tiếng khóc vì đói nhưng chị không thể cho con bú vì chị không thể xoay mình, mà nếu có xoay được thì sẽ rất nguy hiểm cho cả mẹ và con vì đống bê tông sẽ đổ sụp xuống. Nếu cứ thế này thì chị sẽ chết và đứa con cũng không thể sống. Chị nghĩ: Bằng mọi cách đứa bé phải sống, tiếng khóc khát sữa của con đã khiến chị phải cắn đứt đầu ngón tay đưa vào miệng bé..., và nhờ dòng máu từ ngón tay của mẹ, bé đã sống qua những ngày đầy khó khăn và nguy hiểm đó. Sau cùng, đội cứu nạn cũng đã tìm thấy và cứu sống mẹ con chị.
Suy niệm
Thiên Chúa đã gửi Con Ngài đến thế gian để nhờ đó con người được sống: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Người Con yêu dấu của Thiên Chúa lại dâng hiến chính thân mình, chính máu mình như Ngài đã dạy: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54). Ngài đã trở nên lương thực cho con người đạt tới sự sống đời đời: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Lương thực này tặng hiến cho nhân loại để họ được sống và sống dồi dào như lời hứa của chính Ngài (x. Ga 10,10). Sự dâng hiến xác thân của Con Thiên Chúa được gọi là bí tích Thánh Thể, đó là sự dâng hiến tình yêu, cho đi tận cùng của Thiên Chúa qua Người Con Yêu Dấu. Chính vì lẽ đó, sự hiến thân huyền nhiệm này được gọi là bí tích Tình Yêu.
Tình yêu của Đức Kitô qua bí tích Thánh Thể trở nên một, ở trong chính con người đón nhận Thánh Thể, như Ngài đã dạy: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). “Ở lại trong”, “cư ngụ” là mầu nhiệm hiệp thông có nguồn gốc nơi chính tình yêu giữa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu đã diễn tả: Chúa Cha luôn cư ngụ, ở trong Chúa Con trong lúc Chúa Con ở trong Chúa Cha (x. Ga 14,10a).
Trong sự kết hợp tuyệt vời này, ở trong, cư ngụ trong Chúa Kitô sẽ sinh hoa kết trái như Ngài đã mời gọi: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4). Bí tích Thánh Thể trong tâm hồn của người đón nhận như dòng nhựa sống cây nuôi thân nho đơm hoa kết trái, đó là hoa trái của sự bình an, niềm vui nước Trời trong bước hân hoan tiến về quê Cha.
Ý thức được Lời Chúa dạy về Thánh Thể, tôi yếu, tôi cần thần lương Thánh Thể để trợ giúp những yếu đuối. Thánh Thể Chúa như thần dược chữa lành mọi vết thương trong tôi: tâm hồn, trái tim và cả con người được thanh tẩy bằng ơn thánh và thuộc về Thiên Chúa như thánh Fulgence de Ruspe đã cảm nghiệm khi lãnh nhận bí tích này: ”... Lạy Cha, vì tình yêu được lãnh nhận, xin cho chúng con chết đối với tội và chỉ sống cho Cha” (Fab.28,16-19). Tôi là người đang mạnh mẽ, tôi cũng cần “Chúa ở trong, cư ngụ” để làm tăng triển sự hiệp thông của chúng ta với Ðức Kitô và với Giáo hội Người, bảo toàn và canh tân đời sống ân sủng, giúp tăng triển tình yêu đối với chính tôi, trách nhiệm với cuộc sống với tha nhân.
Ý lực sống
“… Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là bánh thực, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh” (Trích Ca Tiếp Liên “Lauda , Sion”).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây