Thánh Ephrem sinh năm 306, mất năm 373. Ngài nổi tiếng là người đạo đức và khiêm tốn. Năm 1820, Đức Bênêđictô XI tôn phong ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh.
Thánh nhân sinh tại Nisibis, miền Mêsôpôtamia vào khoảng đầu thế kỷ thứ IV. Có truyện kể rằng: hồi nhỏ, một lần ngài lấy đá chọi con bò mẹ gần chết. Khi chủ nhân hỏi thăm có thấy con bò ở đâu ngài đã trả lời xấc xược để chữa lỗi. Ephrem đã khóc suốt đời về sự độc ác và hèn nhát này. Sau này có lần vào đêm khuya bị lạc vào giữa đồng, một đứa chăn chiên cho ngài trú ngụ trong lều của nó. Nhưng đứa chăn chiên này đã xấu bụng lại đang say rượu. Đêm ấy chó sói vào tàn sát đàn chiên. Để chữa mình, thằng chăn chiên đổ lỗi cho Ephrem. Trong tù ngài nghe nhiều người than thở vì bị hàm oan. Một buồi chiều, trong giấc mơ, ngài thấy thiên thần cho biết lần này ngài vô tội nhưng phải khổ để đền bù vào những lỗi lầm khác. Thức dậy, Ephrem nhớ lại con bò và thú nhận với mọi người. Thân phụ Ephrem là một thầy cả thờ thần Abnil. Hình như ngài bị đuổi khỏi nhà vì có thiện cảm với các Kitô hữu. Thánh Giacôbê, giám mục Nisibis tiếp nhận dạy dỗ và rửa tội cho ngài hồi 10 tuổi. Để mưu sinh, ngài làm việc ở những hồ tắm công cộng. Nhưng sau đó ngài lại vào sa mạc sống với sự hướng dẫn của thánh Abbê ẩn tu; dệt vải để sống như thói quen của các ẩn sĩ Ai cập và Mêsôpôtamia thời đó.
Ephrem thường khóc tội mình và tội người khác. Các tập “tự thú” ngài viết cho thấy ngài rất mực khiêm tốn, ngài rất ghét tính kiêu căng, ngài nói: Tính kiêu căng phá đổ ơn Chúa và thiêu hủy mọi nhân đức.
Thánh Ephrem luôn ao ước sống đời ẩn dật. Nhưng một cuộc chiến đã bùng ra giữa người Rôma và người Batư. Người Batư bách hại các Kitô hữu cách tàn bạo. Nghe tin này, Ephrem về Nisibis để giúp đỡ và khích lệ họ. Danh thơm nhân đức của ngài lan rộng đến nỗi người ta cho việc giải phóng khỏi ách thống trị của Sapor II là bởi lời cầu nguyện của thánh nhân.
Được thụ phong phó tế, nhưng rồi thánh nhân đã từ chối chức linh mục vì khiêm tốn. Được Đức Giám mục Nisibis trao cho trách nhiệm rao giảng lời Chúa, ngài dùng hết tài lợi khẩu để khêu gợi nhiệt tình nơi các linh hồn: “Thần dữ nói: Ta đi tìm những người khô khan là bạn hữu của ta, và ta không cần phải tìm đến mưu kế, ta chỉ cần giữ chúng trong xiềng xích mà chúng ưa thích là đủ”.
Thánh Ephrem đã gặp thánh Basiliô thành Cappađôcia. Truyền thuyết cho rằng: hai vị hiểu nhau dầu ngôn ngữ bất đồng. Chiến tranh tái phát, Nisibis rơi vào tay người Batư, thánh Ephrem trốn đến Êdêssa. Nơi đây, ngài tận tâm phục vụ bệnh nhân và người nghèo, hoạt động trí thức bằng việc viết sách và giải thích thơ phú. Thánh Ephrem đã viết các bài giảng bằng thơ, các thánh thi ca ngợi vinh quang Chúa Kitô và Đức Trinh Nữ Maria. Người luôn được gọi là “cây đàn của Thánh Linh” là một trong những người rao truyền việc Vô Nhiễm Thai.
– Lạy Chúa, chỉ có Chúa và Mẹ Chúa là tuyệt mỹ. Nơi mẹ Chúa không vương một tì tích nào.
Một năm trước khi thánh nhân qua đời, Êdêssa bị một cơn đói. Ngài kêu gọi lòng quảng đại của mọi người và người ta đã rộng tay đóng góp vào công cuộc phát chẩn của thánh. Cơn đói chấm dứt, thánh nhân trở lại chòi của mình. Lên cơn sốt, ngài nghĩ tới lúc chết:
– Đừng liệm xác tôi bằng đồ quí giá, cũng đừng dựng đài tưởng niệm. Hãy đối xử với tôi như một người lữ khách vì thực sự tôi là một lữ khách xa lạ trên mặt đất này thôi.
Ngài qua đời có lẽ vào tháng 6 năm 373. Thánh Grêgôriô miền Nyssa viết về thánh Ephrem:
– Vinh quang đời sống và giáo thuyết của thánh nhân chiếu giãi khắp hoàn cầu.
Năm 1820, Đức Bênêđictô XI tôn phong ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh.
Thánh Ephrem đã xây dựng đời sống mình bằng việc theo gương Chúa trong tinh thần khiêm tốn. Nhờ lời chuyển cầu của thánh nhân, xin Chúa uốn nắn lòng mỗi người chúng ta luôn trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Nguồn: Website Tổng Giáo phận Sài Gòn
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV đã đưa lễ nhớ thánh Éphrem vào lịch Giáo triều Rôma năm 1920 và tuyên phong ngài là tiến sĩ Hội thánh.
Afrim (hay Éphrem) sinh tại Nisibe khoảng năm 306, vùng Mésopotamie, một tỉnh của đế quốc Rô-ma (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay); vì “thường xuyên quan hệ giới Kitô giáo” nên ngài bị thân phụ theo ngoại giáo và không bao dung, đuổi khỏi gia đình. Sau khi được giám mục địa phương là Đức cha Jacques de Nisibe tiếp nhận, Éphrem, còn là dự tòng, trở thành người con thiêng liêng của ngài và theo lời thuật của Grégoire de Tours, ngài được dạy dỗ và siêng năng đọc, suy niệm Lời Chúa trong Kinh thánh.
Năm mười tám tuổi, ngài lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Sau khi lưu lại Édesse một thời gian, Éphrem trở về Nisibe, nơi đây vị giám mục bảo trợ Giacôbê phong người làm phó tế. Ngài học thần học và trở thành “Yhydy”, một hình thức đan sĩ “tại gia”, với tâm nguyện sống đời khiết tịnh. Ngài sống cuộc đời nghiệm nhặt, vừa phục vụ tích cực Hội thánh, vừa điều hành trường thần học của thành phố. Một chứng nhân đã nói về ngài như sau: “Afrim, do lòng khiêm tốn, đã từ khước làm linh mục, song người hằng nâng đỡ các tín hữu, chống kẻ ngoại giáo và đã trở nên chiến sĩ nổi tiếng kháng cự quân xâm lăng Ba tư.”
Năm 363, thay vì ở lại sống dưới ách nô lệ người Ba tư, phó tế Éphrem đã di tản sang Édesse, miền đất thuộc Rô-ma, đồng thời chuyển về đó trường đại học thần học của ngài, mệnh danh là “trường người Ba tư”. Chính nơi đây ngài sống mười năm cuối đời (363 – 373), và qua đời ở tuổi sáu mươi bảy, do quá tận tụy săn sóc các bệnh nhân dịch hạch.
Éphrem được xem là người thi sĩ vĩ đại nhất của ngôn ngữ Syriaque và đã để lại cho chúng ta một tác phẩm văn học đáng kể, được dịch trước tiên sang tiếng Hy Lạp, sau đó tiếng Aram, La Tinh và Ả Rập… (xem Nguồn tư liệu Kitô giáo, nxb Cerf): Giải thích tác phẩm Diatessaron, số 121, và thánh thi về Thiên Đường, số 137). Tài năng đa dạng của ngài được tỏa sáng trong nhiều lãnh vực: thần học, âm nhạc và thơ văn. Các thánh thi của ngài vừa kêu gọi mọi người sống đức hạnh, vừa tôn vinh các mầu nhiệm thánh và các thánh, đồng thời chống lạc giáo. Một người đồng hương của ngài nói: “Vào các chúa nhật và ngày lễ, người như một người cha đáng kính đứng giữa các trinh nữ và đàn hạc cầm hòa theo tiếng hát của họ… Như thế, toàn thể thành phố đều qui tụ quanh người.”
2. Thông điệp và tính thời sự
a. Khi nhắc đến Thiên Chúa “nhiệm mầu khôn tả”, lời nguyện riêng ca tụng sự nghiệp vô song của phó tế Éphrem, người được ơn linh hứng và sức mạnh của Thánh Thần để “ca ngợi” các mầu nhiệm thánh. Các giáo đoàn sử dụng ngôn ngữ Syriaque gọi người là “Cây đàn của Thánh Thần” vì trên hết, ngài muốn nâng tâm hồn mọi người lên để chiêm ngắm các mầu nhiệm trong đạo bằng nét đẹp của thi ca. Một chứng nhân về ngài đã viết: “Khi nhận thấy dân Edesse yêu thích ca hát, người liền sáng tác thi ca để đối lại với các trò chơi, các bài khiêu vũ đang thịnh hành trong giới trẻ… Các sáng tác của người tỏa sáng những ý tưởng tinh tế và đạo lý về mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh, khổ nạn, sống lại và lên trời, cũng như về bí tích giải tội và các thừa tác viên của bí tích này, các kẻ qua đời.”
b. Khi cho thấy Đức Maria bên cạnh Thánh giá Chúa Giêsu, Tin Mừng Thánh lễ (Ga 19,25-27) muốn gợi đến sự nghiệp của thánh Éphrem. Khi ca tụng Đức Kitô, ngài cũng tôn vinh Mẹ Người nữa. Thánh Mẫu học của thánh phó tế khẳng định trước tiên sự đồng trinh của Mẹ “trước khi sinh con, đang và sau khi sinh con”; rồi ngài trình bày Mẹ như là “đấng ban phát ân sủng và sự thật”; sau cùng ca tụng đặc ơn vô nhiễm nguyên tội của Mẹ: “Lạy Chúa Giêsu, chỉ mình Ngài và Mẹ là hoàn toàn thanh khiết dưới mọi phương diện. Lạy Chúa Kitô cứu thế, nơi Ngài chẳng chút bợn nhơ; và Mẹ Ngài chẳng vương tì tích” (Thơ của Nisibe 27,8)
c. Trong trích đoạn của thánh tiến sĩ nổi tiếng Éphrem được đề ra trong Bài đọc – Kinh sách, ca tụng mầu nhiệm Thánh Thể: “Nhờ các bí tích của Chúa, hằng ngày chúng con được tiếp đón Chúa và rước Chúa vào trong thân xác chúng con, xin làm cho chúng con xứng đáng cảm nghiệm trong con người chúng con sự phục sinh mà chúng con trông đợi. Cùng với ơn bí tích Thánh Tẩy, chúng con cất giấu kho tàng của Chúa trong thân xác chúng con, xin cho kho tàng ấy được gia tăng nhờ bàn tiệc các bí tích của Chúa. xin cho chúng con được vui mừng trong ân sủng của Chúa. Lạy Chúa, nhờ bàn tiệc thần linh của Chúa, chúng con được mang lấy kỷ niệm của Chúa trong con người chúng con, xin cho chúng con được thật sự sở hữu kỷ niệm ấy trong ngày sống lại mai sau”.
Éphrem, người Syrie, không phải là giám mục, cũng không là linh mục, nhưng đã tài tình làm nổi bật vẻ đẹp cao cả của một ơn gọi: ơn gọi phó tế. Thiên chức này mời gọi thừa tác viên lần lượt công bố, giải thích và thể hiện Tin Mừng, linh hoạt việc cử hành Phụng Vụ bằng lời kinh tiếng hát, phục vụ người nghèo, các bệnh nhân, khách ngoại kiều, trong khi vẫn sống đời tận hiến, chuyên cần khổ hạnh và chiêm niệm.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Gx Thổ Hoàng: Thánh lễ Tạ Ơn Hồng Ân Vĩnh Khấn
Vịnh Lá Vàng Rơi
Trách nhiệm trần thế và bổn phận với Thiên Chúa
Thánh lễ Tạ Ơn của Tân Lm Ant. Nguyễn Tiến Dũng
Đá Tảng Góc Tường và Vườn Nho Cuộc Đời
Sống Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi Trong Gia Đình
Mến Chúa-Yêu Người
Niềm Tin Vào Sự Sống Đời Đời
Bà góa nghèo và tấm lòng dâng hiến