Bệnh GOUT đến từ đâu ?!
Bệnh gout nằm trong nhóm bệnh lắng tụ tinh thể (crystalline deposition disease).
Acide urique là thủ phạm
Cụ thể ở bệnh này là lắng tụ tinh thể monosodium urate ở bao khớp, gân do tình trạng acide urique tăng cao trong máu… gây ra các đợt viêm khớp ngoại biên tức là viêm các khớp chân tay đặc biệt hay xảy ra ở ngón chân cái.
Tình trạng viêm này là do các con bạch cầu được ví như các lính chiến đấu trong cơ thể đi dọn dẹp các tinh thể này.
Tình trạng viêm này có thể tái đi tái lại nhiều lần gây ra biến dạng khớp nếu không điều trị. Không phải tất cả những người có acide urique cao trong máu là bị cơn gout, tuy nhiên nếu nồng độ acide urique trong máu cao và kéo dài càng lâu thì càng có nguy cơ bị gout.
Thế tại sao lại bị tăng acide urique trong máu? Đó là do thận không thải được acide urique hoặc do cơ thể tạo ra quá nhiều (do ăn uống, do bịnh lý như ung thư máu dạng lim phôm, thiếu máu tán huyết, vảy nến.. ) hoặc do bất thường trong chu trình tạo ra acide này.
Bệnh sẽ biểu hiện bằng các cơn đau ở các khớp, khớp có thể bị sưng to đỏ có thể có nước trong khớp đặc biệt là ngón chân cái (khớp bàn ngón) hay bị nhất, tuy nhiên các khớp khác đều có thể bị. Cơn đau rất nặng được mô tả dữ dội và nhiều khi bệnh nhân không dám đắp mền vì chỉ cần chạm nhẹ vào cũng gây ra cơn đau dữ dội.
Cơn gout hay xảy ra sau 1 chấn thương nhẹ, sau bữa nhậu linh đình. Cơn gout có thể xảy ra vài ngày hoặc vài tuần và có thể tự bớt, nhưng nếu không điều trị những cơn này sẽ xuất hiện thường hơn và gây ra biến dạng hủy khớp gây tàn phế.
Làm sao để chẩn đoán bệnh gout?
- Các BS sẽ cho bệnh nhân đi thử nồng độ acide urique trong máu và tùy theo thông số của mỗi loại máy thử mà cho các con số khác nhau, bình thường nhỏ hơn 7mg/dL
Tuy nhiên cơn gout khá đặc biệt nên đôi khi có thể chẩn đoán qua hỏi bệnh sử và khám bệnh nhân vì nồng độ acide urique trong máu cao giúp chẩn đoán nhưng không chuyên biệt.
Nếu lấy dịch khớp đem soi dưới kính hiển vi để thấy các tinh thể urate hình kim là chắc chắn nhất nhưng ít được làm vì nhiều lý do khác nhau.
- Chụp x ray khớp cho thấy hình ảnh tổn thương xương dưới sụn.
Bệnh tiến triển Ra Sao và có thể chữa khỏi hay không?
Thường thì cơn gout có thể bị đẩy lui bằng các thuốc hiện có và nếu bệnh nhân chịu theo cuộc điều trị và chấp nhận ăn kiêng thì có thể ngăn chặn được bệnh nhưng nên nhớ rằng đây là loại bệnh không thể chữa dứt, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.
Nếu không điều trị hoặc để cơn gout xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp gây tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20 % bệnh nhân bị gout bị sỏi thận do chính tinh thể urate lắng tụ gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm trùng tiểu… có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng. một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá .. gọi là cục tophi là do lắng tụ tinh thể urate khi bể ra làm chảy ra 1 chất bột trắng giống như phấn.
Vai trò của nội soi khớp là làm sạch khớp, cắt bớt bao hoạt dịch c=E 1a khớp khi bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Một khi khớp bị hư hoàn toàn thì có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo.
BS TĂNG HÀ NAM ANH
Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout
I. Những thức ăn và đồ uống không có lợi cho người bị bệnh gout :
1. Thức ăn :
Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như : Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê, thịt thú rừng…; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc…; Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn…
Giảm bớt những thực phẩm giàu đạm khác trong khẩu phần ăn như :
+ Đạm động vật nói chung như: Thịt lợn, thịt chó, thịt gà, thịt vịt…; Cá và các loại thủy sản như: lươn, ếch…
+ Đạm thực vật: Đậu hạt nói chung nhất là các loại đậu ăn cả hạt như : đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu đỏ, đậu xanh…, Các chế phẩm từ đậu nành như : Đậu phụ, sữa đậu nành, tào phớ… nhìn chung ít làm tăng acid uric hơn các loại đậu chưa chế biến.
Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể.
Giảm các thực phẩm giàu chất béo no như : Mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay, thực phẩm chế biến với các chất béo no như: Mì tôm, thức ăn nhanh.
Bệnh nhân có tầm vóc trung bình 50 kg không nên ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày
Đồ uống :
Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than…
Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gout.
Giảm các đồ uống có tính toan như : nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì làm tăng nguy cơ kết tinh urate ở ống thận, tăng nguy cơ sỏi than.
II. Những thức ăn, đồ uống có lợi cho người bị bệnh gout:
1.Thức ăn :
Các thực phẩm giàu chất xơ nói chung như dưa leo, củ sắn, cà chua…giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm thoái hoái biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric. Ngoài ra, Rau Tía Tô cũng là thuốc trị bịnh Gout rất hiệu nghiệm nữa - Mỗi ngày ăn cơm 2 lần sáng và chiều đều phải có lá Tía Tô ăn như rau sống. Lúc nào cũng có Tía Tô sẵn trong nhà. – Khi cãm thấy sắp bị sưng chân là nhai nuốt nhiều lá Tía Tô liền. – Nếu đang bị lên cơn đau thì nấu 1 bó lá Tía Tô để uống thì sẽ giảm đau ngay trong vòng 1/2 tiếng.
2.Đồ uống :
Nên uống nhiều nước (tối thiểu 2,5 đến 3 lít nước mỗi ngày).
Nên uống nước khoáng không ga có độ kiềm cao giúp tăng đào thải acid uric và hạn chế sự kết tinh urate tại ống thận, làm giảm nguy cơ sỏi thận.
Quỳnh Mai Sưu tầm
Tại Hoa kỳ, mỗi năm có khoảng 12 triệu người cần được điều trị vì nút ráy tai hoặc vì nhi ều ráy tai quá. Chứng nút ráy tai (impaction) có thể gây đau đớn, áp suất, ngứa, thối tai, ù tai, chảy mủ và, trong trường hợp tệ hại nhất, có thể làm điếc tai.Đừng nên đụng tới ráy tai khi không cần thiết !
Ráy tai (earwax) là chất sáp mẩu vàng ở bên trong tai. Theo khuyến cáo mới đây của viện American Academy of Otolaryngology (AAO) thì “ráy tai có chức năng của nó, vì vậy nếu không cẩn thiết thì đừng đụng tới!”
Tại Hoa kỳ, mỗi năm có khoảng 12 triệu người cần được điều trị vì nút ráy tai hoặc vì nhi ều ráy tai quá. Chứng nút ráy tai (impaction) có thể gây đau đớn, áp suất, ngứa, thối tai, ù tai, chảy mủ và, trong trường hợp tệ hại nhất, có thể làm điếc tai.
Viện AAO đã đưa ra một bản hướng dẫn nhằm hai mục đích:
- xác định những trường hợp nào ráy tai cẩn phải lẩy ra,
- cho bác sĩ biết phương pháp lấy ráy tai nào tốt nhất.
Ráy tai là một tác nhân tự rửa, với những tính chất bảo vệ, làm trơn và kháng khuẩn. Các hạch nhỏ trong ống tai ngoài luôn luôn bơm ra một chất lỏng như nước, chất này quyện với các cụm lông tai và da bị chết để tạo thành ráy tai (earwax/ cerumen). Ráy tai dư thừa bị đẩy từ từ ra khỏi ống tai, thúc đẩy bởi chuyển động nhai và khác nữa của hàm răng, rồi lôi cuốn theo bụi bậm và các hạt nhỏ khác ra khỏi ống tai. Cuối cùng, những cục ráy tai khô sẽ rơi ra khỏi lỗ tai.
Khi sự vận hành nói trên của ráy tai bị trục trặc, hoặc khi người ta ngoáy lỗ tai với một que bông gòn hay với những vật lạ khác như cái ngoáy tai hay que diêm, thì ráy tai có thể dồn lại và bịt một phần ống tai. Ngoài ra, nhiều người lại còn gắn nút nghe (earplugs) vào lỗ tai khi đeo máy trợ thính, làm nghề truyền tin hay vì ham nghe nhạc với máy walkman. Điều này cũng cản trở ráy tai tự rơi ra khỏi tai. Hơn nữa, những người lớn tuổi dễ bị nghẹt lỗ tai hơn là các người trẻ, vì họ có ráy tai dày và khô hơn; vả lại, trong tai họ có nhiểu lông hơn nên cản trở sự vận hành của ráy tai. Sau hết, nhiều người lại thích tự lấy ráy tai, làm cho vấn để trở nên phức tạp hơn.
Đối với mọi người, bản hướng dẫn khuyên đừng nên đụng tới ráy tai, trừ khi có những triệu chứng là có quá nhiều ráy tai. Nếu ở nhà, bạn có thể nhỏ vào tai vài giọt thuốc lấy ráy tai có bán tự do tại các tiệm thuốc tây. Bạn có thể mua bất cứ nhãn hiệu nào cũng được, vì chúng đều tốt như nhau; nếu không, bạn cũng có thể dùng nuớc khử trùng hay nước muối cũng được. Các giọt thuốc nhỏ vào tai chỉ có công dụng làm lỏng ráy tai mà thôi, còn thường thì tai sẽ làm tiếp công việc đẩy ráy tai ra ngoài.
Bản hưởng dẫn còn khuyên không nên dùng que bông gòn hay bất cứ vật gì khác để ngoáy lỗ tai. Cách dùng vòi xịt tưới qua đường miệng (oral jet irrigators) hay các phương pháp y học không tập quán cũng không nên sử dụng. Trong cách đốt nến vào tai (ear candling), người ta lấy vải cuốn thành một ống rỗng, nhúng vào trong sáp ong, rồi để cho nguội và cứng lại. Sau đó, ống sáp được đút vào trong lỗ tai, và người ta đốt cháy đầu bên ngoài của ống trong vòng 15 phút. Người ta tin rẳng, cách này sẽ hút ráy tai ra ngoài; nhưng nghiên cứu cho thấy, thật ra chất hút ra chỉ là từ nến sáp. Hơn nữa, đôi khi bệnh nhân còn bị phỏng tai.
Nếu nhỏ thuốc mà triệu chứng không dứt hoặc bạn không thích nhỏ thuốc mà vẫn còn triệu chứng, thì đây là lúc bạn phải đi gặp bác sĩ. Bác sĩ có ba phương pháp thông dụng và tốt nhất để lấy ráy tai cho bạn. Đó là bơm đầy dung dịch nước vào trong tai, soi kính hiển vi và dùng dụng cu y khoa để lấy ráy tai, rồi kê toa cho bệnh nhân mua thuốc về nhà nhỏ vào tai.
Bác sĩ Peter Roland thuộc Đại học Texas Southwestern Medical Center, Dallas, khuyên mọi người đừng có bối rối khi bác sĩ phát hiện ra một chút ráy trong tai. Ông nói: “Có những bệnh nhân của tôi kinh ngạc, khi tôi trông thấy một chút ráy trong tai họ, và đã xin lỗi tôi vì để tai dơ. Điều tôi muốn nói là ráy trong tai có chức năng sinh lý học của nó, và đừng nên đụng vào, trừ khi có lý do xác đáng”….
Sưu Tầm
Mỗi năm, cả thế giới phát hiện 10 triệu trường hợp ung thư (UT), nhưng theo Tổ chức y tế thế giới, ước tính đến năm 2020 có khoảng 15 triệu, tăng 50%, nếu chúng ta không tích cực “hành động”. Hầu hết các chứng UT có thể biết trước, thay đổi cách sống có thể làm giảm nguy cơ. Đây là “tế cấp tam thập điều” để ngăn ngừa UT:1. Một nghiên cứu của Phần lan thấy rằng, quá trình lên men có liên quan tới việc dưa bắp cải (sauerkraut, của Đức) sản sinh các hợp chất kháng UT – kể cả ITC, indole và sulforaphane. Để giảm lượng sodium, hãy rửa dưa muối trước khi ăn!
2. Ăn bông cải (broccoli), nhưng nên hấp hoặc chưng chứ đừng nấu bằng lò vi-ba. Bông cải là “siêu thực phẩm ngăn ngừa UT, nên ăn thường xuyên. Tuy nhiên, nghiên cứu của Tây ban nha thấy rằng, bông cải nấu bằng lò vi-ba làm giảm 97 % flavonoid (chất kháng UT). Do đó nên luộc, hấp, chưng, trộn hoặc ăn sống.
3. Ăn món trộn với dầu hạnh nhân Brazil (brazil nut), vì chất selenium giúp ngăn chặn quá trình phát triển tế bào UT và “điều chỉnh” AND. Nghiên cứu của ĐH Harvard ở hơn 1.000 người đàn ông (bị UT tiền liệt tuyến) cho thấy rằng, những người có mức selenium cao thì giảm phát triển bệnh 48% trong 13 năm kế tiếp, so với những đàn ông có mức selenium thấp. Nghiên cứu trong 5 năm, ĐH Cornell và ĐH Arizona thấy rằng, lượng 200mg selenium mỗi ngày (tương đương 2 hạt hạnh nhân Brazil) giúp giảm 63% UT tiền liệt tuyến, giảm 58% UT trực tràng, 46% bướu phổi ác tính, và giảm 39% hầu hết các loại UT gây tử vong.
4. Bổ sung calcium và vitamin D. Nghiên cứu của Trường Thuốc Dartmouth cho thấy rằng, việc bổ sung này làm giảm polyp đại tràng (nguy cơ gây UT) ở những người dễ phát triển bệnh này.
5. Hãy thêm tỏi vào món ăn! Tỏi chứa sulfur khả dĩ kích thích sức đề kháng UT tự nhiên của hệ miên nhiễm, và có thể ngăn ngừa ung bướu. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, tỏi có thể làm giảm UT bao tử khoảng 12%.
6. Phi 2 nhánh tỏi đập giập với 2 muỗng dầu ôliu, rồi trộn với cà chua và dùng với mì sợi. Chất lycopene (có trong cà chua) giúp đề kháng UT đại tràng, UT tiền liệt tuyến và UT bàng quang. Dầu ôliu giúp cơ thể hấp thu lycopene, còn mì sợi (giàu chất xơ) giúp giảm nguy cơ UT đại tràng.
7. Mỗi tuần, nên mua dưa đỏ (cantaloupe) về xắt miếng và cho vào tủ lạnh để ăn dần mỗi sáng. Dưa đỏ giàu carotenoid – loại hóa chất thực vật làm giảm nguy cơ UT phổi.
8. Trộn nửa chén trái việt quất (blueberry) với bột ngũ cốc dùng mỗi sáng. Việt quất giàu chất chống ôxít hóa. Chính chất chống ôxít hóa làm trung hòa các căn nguyên tự do làm tổn hại tế bào và gây bệnh.
9. A-ti-xô giàu silymarin – chất chống ôxít hóa khả dĩ chống UT da. Loại này dễ ăn và ngon. Có thể luộc hoặc hấp khoảng 30-45 phút thì mềm.
10. Thịt nướng ăn ngon miệng nhưng nó chứa nhiều hóa chất gây UT. Viện nghiên cứu UT Mỹ thấy rằng, thịt ướp nước sốt và nướng thì giúp giảm tạo ra loại hóa chất như vậy. Nên luộc thịt rồi nướng.
11. Nghiên cứu cho thấy rằng, những đàn ông uống 8 ly nước lớn mỗi ngày giúp giảm nguy cơ UT bàng quang được 50%. Phụ nữ uống nước nhiều giúp ngăn ngừa UT đại tràng khoảng 45%.
12. Hãy có thói quen uống trà! Trà xanh được đánh giá cao ở Á châu hằng ngàn năm qua. Tây phương nghiên cứu mới đây cho thấy trà đề kháng nhiều loại UT, kể cả bệnh tim. Một số khoa học gia tin rằng, một loại hóa chất trong trà là EGGG có thể là một trong các hợp chất kháng UT mạnh nhất được phát hiện từ trước tới nay.
13. Hãy uống một chút bia, nhưng đừng uống nhiều! Bia đề kháng vi khuẩn Helicobacter pylori, loại gây ung bướu khả dĩ dẫn đến UT bao tử. Uống bia, rượu nhiều có thể gây UT vú, miệng, họng, thực quản và gan.
14. Các nhà nghiên cứu Úc dân Canada và thấy rằng, những người ăn từ 4 phần cá hồi trở lên mỗi tuần thì giảm gần 1/3 nguy cơ bệnh bạch cầu. Các nghiên cứu khác cho thấy việc ăn cá có mỡ (cá hồi, cá thu, cá bơn, cá mòi và cá ngừ - kể cả tôm, sò) thì giảm nguy cơ UT tử cung ở phụ nữ. Omega-3 có trong cá rất có lợi cho sức khỏe và kỳ diệu!
15. Nên bổ sung viên đa vitamin mỗi sáng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, vitamin và khoáng chất khả dĩ cải thiện hệ miễn nhiễm và giúp ngăn ngừa nhiều chứng UT.
16. Mỗi ngày phơi nắng sáng 15 phút để làm khỏe xương. Ánh nắng chứa nhiều vitamin D tự nhiên rất cần cho cơ thể. Nghiên cứu cho thấy rằng, thiếu vitamin D có thể làm tăng nguy cơ mắc nhiều chứng UT như UT vú, đại tràng, tiền liệt tuyến, buồng trứng, bao tử, loãng xương, tiểu đường, đa ngạch kết (xơ cứng) và cao huyết áp. Nhưng nên tránh ánh nắng gắt, vì nó có thể gây UT da. Cũng có thể bổ sung vitamin D.
17. Cắt đôi trái kiwi và múc phần “thịt” mà ăn. Trái kiwi chứa chất chống ôxít giúp ngăn ngừa UT. Nó còn chứa vitamin C, vitamin E, lutein và đồng. 18. Cẩn thận khi quan hệ tình dục. Có thể đề phòng bằng cách dùng bao cao-su để ngăn ngừa lây nhiễm papillomavirus (HPV), loại virus này có thể gây UT cổ tử cung.
19. Giảm ăn mỡ động vật. Nghiên cứu của ĐH Yale cho thấy rằng, các phụ nữ ăn nhiều mỡ động vật có nguy cơ 70% bị bạch cầu, ăn nhiều chất béo bão hòa tăng nguy cơ là 90%. Do đó, nên ăn ít chất béo động vật, thay vào đó nên dùng dầu thực vật và dầu cá.
20. Nho chứa nhiều hợp chất resveratrol giúp đề kháng UT, ăn nho chứ đừng uống rượu nho! vì rượu làm tăng nguy cơ UT vú ở phụ nữ. Nho có khả năng làm mạnh hệ miễn nhiễm.
21. Hành tươi tốt cho sức khỏe vì nó khả dĩ chống UT tiền liệt tuyến khoảng 50%. Ăn sống tốt hơn nhúng tái hay nấu chín.
22. Hằng ngày nên dùng nước chanh. Các nhà nghiên cứu Úc thấy rằng, chanh có khả năng làm giảm UT miệng, họng và bao tử.
23. Sau bữa tối nên đi dạo 30 phút. Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, hoạt động này giúp giảm nguy cơ UT vú. Đi bộ giúp điều chỉnh mức estrogen (hormone gây UT vú) và giảm cân hiệu quả.
24. Dùng thực phẩm hữu cơ, vì chúng không có thuốc trừ sâu hoặc thuốc tăng trưởng. Cả 2 loại thuốc này đều có thể làm tổn thương tế bào và gây UT.
25. Cây bồ công anh (dandelion) có thể làm giảm nguy cơ UT.
26. Tự giặt ủi quần áo không dùng máy sấy khô. Nhiều loại máy sấy khô (Dry cleaning) dùng hóa chất perc (perchloroethylene), chất này có thể gây tổn hại thận, gan và UT. Đừng lạm dụng ly nhựa uống nước hằng ngày hoặc đựng đồ ăn bằng đồ nhựa!
27. Dùng dưa leo (dưa chuột) tươi thay vì dưa muối và dùng cá hồi tươi. Nghiên cứu cho thấy rằng, thực phẩm muối hoặc hun khói chứa nhiều carcinogen (chất gây UT).
28. Đừng ăn nhiều khoai tây chiên và bánh qui, vì chúng chứa nhiều acrylamide – chất gây UT, sản sinh trong quá trình nướng! Theo Michael Jacobson, giám đốc điều hành Trung tâm Khoa học về Quan tâm cộng đồng, acrylamide gây khoảng 1.000 đến 25.000 trường hợp UT mỗi năm. FDA đang xem xét mức nguy hại của acrylamide.
29. Nên nằm giường vải, ngồi ghế vải (kiểu ghế bố) để cơ thể thoải mái, tránh tổn hại da.
30. Nghiên cứu của ĐH Quốc gia New York ở Stony Brook cho thấy rằng, quý ông chịu stress nhiều và ít giao thiệp, hoặc các thành viên gia đình có mức cao về sinh kháng thể tiền liệt tuyến (prostate-specific antigen – PSA) trong máu thì dễ bị UT tiền liệt tuyến.
Trầm Thiên Thu (Theo Reader’s Digest)
Chắc hẳn trong chúng ta không ai còn xa lạ với cây sả. Tuy nhiên, ít ai biết được, ngoài công dụng là một loại gia vị trong các món ăn, sả còn được biết đến như một loài thuốc quý với những công dụng chữa bệnh thần kì.
1. Ngăn ngừa ung thư
Một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100 g sả chứa đến 24,205 microgam beta-carotene - những chất chống oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư.
2. Giải độc
Ăn sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần xuất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể để loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric.
Đặc biệt sả giải độc rượu rất nhanh, bạn có thể dùng 1 bó sả giã nát, thêm nước lọc, gạn lấy 1 chén. Người say rượu nặng uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.
3. Chống sốt rét
Ở các nước Bắc Mỹ, người dân đã biết sử dụng sả để điều trị các bệnh cảm cúm, cảm lạnh, bệnh sốt rét do muỗi gây ra. Với nhiều cách như ăn sống hoặc giã nhuyễn lấy nước để uống trị bệnh cảm cúm rất hay
4. Hỗ trợ tiêu hóa tốt
Là gia vị có khả năng giúp tiêu hóa, hạn chế đau dạ dày, ợ khí chua, đầy bụng và tiêu chảy, nó cũng giúp làm giảm các vấn đề về đầy hơi vì nó có khả năng làm dịu các cơ dạ dày.
5. Giảm cân
Đối với người Thái Lan, sả không chỉ là gia vị tăng sự ngon miệng và mùi hương quyến rũ cho món ăn mà nó còn có thể giúp giảm cân vì sả cắt giảm các calo trong món ăn. Họ cho rằng, cũng như ớt, vị cay trong sả giúp đốt cháy các chất béo, và không cho chúng tích lũy trong cơ thể.
6. Trị nấm
Tinh dầu được chiết xuất từ sả có thể tiêu diệt được nấm và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Điều này rất có ích trong việc chống lại các bệnh nhiễm nấm ở tai, mũi và khu vực họng.
7. Tốt cho da
Các nhà khoa học ở Đại học Wisconsin - Eau Claire cho biết, sả giúp làm giảm vết thâm tím trên da, đồng thời làm cho làn da sáng đẹp. Nó làm giảm sự thâm tím và thúc đẩy quá trình làm lành da giống nghệ. Ngoài ra, sả có thể làm giảm các mụn nhọt và trứng cá.
8. Điều trị rối loạn kinh nguyệt
Phụ nữ bị rối loạn kinh nguyệt, đau bụng khi hành kinh, lấy vài giọt tinh dầu sả trộn với một ít bột tiêu đen thành một hỗn hợp lỏng rồi uống, cũng có thể ép sả tươi lấy dịch hoặc sắc lấy nước rồi uống cũng sẽ thấy bớt đau bụng khi hành kinh và điều hòa kinh nguyệt.
9. Chống trầm cảm
Sả có tác dụng hạ sốt, chống trầm cảm, giúp tiêu hóa tốt, nhất là uống một ly nước có pha vài giọt tinh dầu sả ngay sau các bữa ăn. Người ta còn sử dụng hương thơm của sả trong các phương pháp trị liệu khác như xông hơi, tắm hơi để thư giãn cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái sau một ngày làm việc.
10. Giảm đau
Tinh chất sả có thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu bị đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác, hãy uống trà sả vì chắc chắn nó sẽ hữu ích cho bạn.
11. Tốt cho tóc
Trong dân gian, phụ nữ thường nấu nước sả để gội đầu cho trơn tóc, sạch gầu, ít rụng tóc và có thể tránh được một số bệnh về tóc.
12. Giảm huyết áp
Sả có tác dụng làm giảm huyết áp, giúp tăng cường lưu thông lưu thông máu. Theo khuyến cáo của các chuyên gia, khi huyết áp tăng, bạn có thể uống một cốc nước sả sẽ giúp huyết áp giảm đáng kể.
Sưu tầm
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đau răng gồm sâu răng, nhiễm trùng, áp-xe và bệnh nướu răng. Khi chưa kịp đến nha sỹ, bạn có thể tự làm giảm cơn đau răng bằng những vị thuốc từ thiên nhiên đấy nhé! Dưới đây là 10 phương pháp bạn có thể tận dụng để đẩy lùi cơn đau khó chịu này:Chườm đá
Một trong những biện pháp tốt nhất để làm giảm đau cho răng là chà các khu vực răng bị đau với nước đá. Làm như vậy vài lần trong ngày. Nước đá sẽ gây tê và do đó giảm bớt sự đau đớn.
Nước soda
Nước soda được coi là có thể giảm đau răng tạm thời. Bạn cũng có thể thay thế nước soda bằng rượu whisky. Mỗi lần súc miệng khoảng vài giây, làm vài lần như vậy trong ngày.
Dùng tỏi
Nguyên nhân chính của đau răng là sự nhiễm trùng, răng yếu, tổn thương, hay răng rụng mất.
Mỗi khi răng đau, lấy vài tép tỏi, ngâm với muối và đặt vào chỗ đau. Chỗ đau sẽ dịu đi nhanh chóng mà không cần phương pháp nào khác đi kèm.
Bạn cũng có thể nghiền nát một tép tỏi rồi đặt trực tiếp lên răng đau. Để trong vài phút, sau đó bạn súc miệng bằng nước ấm.
Mỗi sáng thức dậy, nhai 1 tép tỏi, cách này giúp răng chắc khỏe hơn.
Đắp gừng hoặc ớt đỏ
Gừng và ớt đều có tính kháng viêm vì thế bạn có thể pha hỗn hợp gồm nước cùng gừng tươi nghiền hoặc ớt đỏ xay nhuyễn. Dùng bông gòn nhúng vào hỗn hợp, vắt nước rồi đắp bông gòn lên vùng răng đau. Hỗn hợp này rất nóng, có thể gây bỏng rát, vì thế bạn tránh để bông gòn đụng vào nướu. Và nên vừa làm vừa nghe ngóng để xem cách này có hợp với bạn không nhé!
Thoa dầu bạc hà
Theo Trung tâm Y khoa trường Đại học Maryland, Mỹ, chất menthol trong bạc hà có tác dụng chống viêm. Khi bị đau răng, bạn có thể sử dụng tinh dầu bạc hà thoa lên răng hoặc lấy lá bạc hà giã nhuyễn rồi đắp lên chỗ răng đau để làm giảm cơn đau.
Súc miệng với trà xanh
Trà xanh chống ô-xy hóa, chống viêm và sát trùng tốt. Súc miệng với trà xanh không đường sẽ giúp bạn giảm đau răng.
Theo Trung tâm Y khoa Đại học Maryland, Mỹ, tính chất kháng khuẩn của trà xanh có khả năng ngăn chặn hoặc làm chậm sự phát triển của sâu răng. Súc miệng với trà xanh có thể giúp làm lành áp-xe hoặc viêm nướu. Cách đơn giản là bạn nấu nước trà xanh để súc miệng nhiều lần trong ngày.
Dầu đinh hương
Dầu đinh hương có chứa hợp chất eugenol giúp giảm đau. Chất này có tác dụng như thuốc gây tê. Bạn có thể dùng bông thấm dầu đinh hương rồi đặt vào chỗ răng đau.
Lưu ý: Phụ nữ có thai, cho con bú, người dị ứng với eugenol, trẻ em, người bị rối loạn đông máu, tiểu đường hay hạ đường huyết thì không nên sử dụng dầu đinh hương nhé!
Bột nghệ
Nghệ chứa các hợp chất kháng khuẩn, chống viêm nên có thể làm dịu cơn đau răng. Bạn có thể lấy 1 thìa cà-phê bột nghệ trộn với nước rồi thoa lên răng bị đau.
Ngoài ra, bạn có thể lấy củ nghệ tươi nướng trên lửa, sau đó nghiền thành bột mịn rồi rắc lên nướu và vùng răng bị đau, cơn đau sẽ nhanh chóng qua đi.
Nhai lá ổi
Để giảm đau nhức răng, bạn có thể nhai lá của cây ổi nếu như nhà bạn hoặc gần nhà bạn có cây ổi nhé. Nếu không có cây ổi, bạn có thể tìm đến một loại đồ uống có rượu mạnh hoặc một nước súc miệng có chứa rượu để giảm đau và chống nhiễm trùng.
Dùng nước chanh
Một cách khác để làm giảm đau răng là thoa nước chanh vào chỗ răng bị đau. Vitamin C trong trái chanh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn và làm giảm đau răng hữu hiệu.
sưu tầm (Theo webphunu
Những thay đổi của làn da ảnh hưởng tới 70% phụ nữ trong thời điểm mang thai cho đến sau khi sinh, nguyên nhân chính gây nên những thay đổi này chính là do sự thay đổi hàm lượng hormon trong cơ thể. Tàn nhang là một trong số những phiền toái hàng đầu của chị em phụ nữ sau khi sinh.
Bảo vệ da
Trước hết để cải thiện tình trạng này, bạn cần hình thành thói quen bảo vệ làn da khỏi ánh nắng mặt trời vì ánh nắng mặt trời chính là thủ phạm khiến đốm tàn nhang hình thành nhiều hơn và sẫm màu hơn.
Trước khi ra nắng khoảng nửa tiếng, bạn cần thoa kem chống nắng có chỉ số SPF trên 30, tiếp đó cần mặc áo chống nắng, đội mũ rộng vành và đeo kính râm.
Nên thoa kem chống nắng sau khoảng 4 tiếng một lần vì mồ hôi có thể “xối” đi lớp kem chống nắng trước đó khiến kem chống nắng mất hiệu quả.
Mặt nạ
Mặt nạ được chế biến từ những thành phần thảo mộc, những nguyên liệu sẵn có sẽ giúp bạn đánh đuổi những đốm tàn nhang đáng ghét hiệu quả nhưng không gây nên bất cứ kích ứng nào cho da.
Cách 1: Trộn soda và đường với số lượng bằng nhau, thêm một chút nước, nếu da bạn khô có thể thêm một vài giọt mật ong, đánh đều sau đó thoa lên mặt khoảng 30 phút rồi rửa lại với nước thường.
Cách 2: Với hai loại sữa tươi và sữa chua, làn da bạn sẽ láng mịn và hạn chế môi trường sống của những đốm tàn nhang hiệu quả. Trong hai loại sữa này có chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất, hơn nữa thành phần axit lactic trong sữa chua sẽ làm bề mặt da trở nên mềm mại, không gây tấy, rát, khô da, vì vậy thường xuyên dùng chúng để rửa mặt mỗi ngày, hiệu quả sẽ tích cực trông thấy.
Cách 3: Dùng chanh tươi ép lấy nước và dùng bông gòn thấm nước cốt chanh thoa lên da. Trong nước cốt chanh có chứa chất axit nên có tác dụng làm trắng da và trị tàn nhang hiệu quả.
Cũng có thể áp dụng công thức: trộn 57g nước chanh tươi + 28g rượu rum loại nhẹ + 1 thìa cà phê glycerin. Dùng vải cotton sạch chấm dung dịch này và bôi lên mặt.
Cách 4: Bạn có thể bóc tách lớp vỏ ngoài và dùng nhựa lô hội thoa trực tiếp lên da, việc làm rất đơn giản nhưng sẽ mang lại cho bạn làn da mịn màng, tươi trẻ nhanh chóng.
Cách 5: Dùng các loại củ quả sẵn có như khoai tây, cà chua, dưa chuột… cắt thành lát mỏng đắp lên da mặt, khoảng nửa tiếng sau rửa sạch lại da mặt bằng nước lạnh để giúp các lỗ chân lông se khít lại. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể uống một cốc nước ép cà chua mỗi ngày hoặc thường xuyên sử dụng cà chua làm nguyên liệu chế biến thức ăn hằng ngày để phòng ngừa tàn nhang.
Cách 6: dùng mật ong tươi nguyên chất thoa đều lên da mặt, sau đó dùng nước ấm rửa lại, cuối cùng rửa sạch da mặt bằng nước lạnh.
Cách 7: dùng nước ép ngò tây trộn lẫn nước cốt chanh, nước cốt canh với nhau và dùng bông gòn thoa đều lên vùng da bị tàn nhang.
Cách 8: dùng củ hành cắt lát, đắp lên vùng da bị tàn nhang đều đặn trong vòng nửa giờ. Liên tục thực hiện theo cách này cho đến khi tàn nhang thuyên giảm.
Cách 9: y học hiện đại đã cho ra đời những loại thuốc hỗ trợ trong quá trình tiêu diệt phần nào tàn nhang. Ngoài ra các phương pháp đốt điện, dùng tia laser hoặc đốt lạnh bằng nitơ lỏng có thể xóa các nốt tàn nhang. Hãy tham khảo thêm ý kiến bác sĩ về phương pháp trị liệu này để biết rõ những mặt tích cực cũng như hệ lụy không mong muốn trước khi quyết định.
Bổ sung vitamin C
Là loại vitamin “thân thiện” với da, phòng tránh nguy cơ xuất hiện tàn nhang trên da. Hơn nữa, vitamin C còn là loại “thần dược” giúp da láng mịn. Vitamin C có nhiều trong các loại trái cây, đặc biệt trái cây thuộc họ cam quýt, táo, lê, ổi…
Đừng trang điểm 24/24
Làn da rất cần được “hít thở” không khí trong lành. Nếu bạn luôn bưng bít các lỗ chân lông bằng những lớp kem, phấn… sẽ khiến làn da dễ bị nổi mụn, tiếp tay cho những đốm tàn nhang xuất hiện. Vì thế, bạn chỉ nên trang điểm khi thật cần thiết, nếu không hãy để “nude” cho làn da.
Uống đủ lượng nước cơ thể cần
Nước giúp thanh lọc cơ thể, giúp da đào thải độc tố và loại trừ những tác nhân khiến da bị sạm đen, tàn nhang…
Mỗi ngày trung bình cơ thể chúng ta cần khoảng 8 cốc nước. Ngoài nước lọc bạn có thể uống thêm các loại nước trái cây giàu vitamin và khoáng chất khác.
KHỔNG THU HÀ (Theo WT)
6 tác dụng không ngờ từ bánh mì
Trong ấn bản mới nhất của Tạp chí dinh dưỡng Bulletin, tiến sĩ O’Connor của quỹ dinh dưỡng Anh đã viết: Bánh mì cung cấp hơn 10% lượng protein, chất sắt vào cơ thể chúng ta mỗi ngày, giúp chúng ta đáp ứng một số nhu cầu dinh dưỡng quan trọng.
Chúng ta ăn trung bình từ 2 đến 3 lát bánh mì mỗi ngày, nhưng sau đây sẽ là những lý do mà bạn muốn tăng thêm “con số” đó.
1. Giúp làn da đẹp:
Làn da chúng ta rất cần protein - chất cần thiết giữ cho da chúng ta khỏe mạnh. Chất dinh dưỡng này thường có trong bít tết, cá và đồ nướng, nhưng có một điều ngạc nhiên là nó cũng có trong bánh mì. Vì vậy, bốn lát bánh mì mỗi ngày có thể cung cấp 1/4 lượng protein cho phụ nữ và 1/5 cho nam giới.
2. Giúp xương chắc khỏe:
Bốn lát bánh mì trắng mỗi ngày cung cấp cho chúng ta 164mg calcium (giống như 100g sữa chua) trong khẩu phần 800mg calcium mỗi ngày mà chúng ta cần nạp vào cơ thể. Các bạn nữ ở độ tuổi 10 đến 15 thường chỉ ăn khoảng 300mg calcium mỗi ngày, đây là vấn đề rất nghiêm trọng đối với sự phát triển của xương và nguy cơ gãy xương là rất cao. Vì vậy, ăn bánh mì vào mỗi bữa sáng hay bữa trưa giúp tăng đáng kể các chất giúp xương chắc khỏe.
3. Giúp não hoạt động tốt nhất:
Chất sắt giúp chúng ta tràn đầy sinh lực và giúp não bộ làm việc chính xác và tự tin. Hiện nay, rất nhiều phụ nữ ở Anh ăn quá ít chất sắt, vì thế, họ luôn cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, hay gắt gỏng trong khi làm việc. Từ năm 1953, chất sắt đã được thêm vào bột bánh mì.
Theo một nghiên cứu thì một lát bánh mì trắng cung cấp 0.6mg trong tổng số 15 mg phụ nữ cần mỗi ngày. Vì vậy, bốn lát bánh mì mỗi ngày sẽ giúp bạn tăng lượng sắt, và nó thật hữu ích nếu bạn muốn tránh ăn thịt bò và dầu cá.
4. Giúp cải thiện tâm trạng:
Chúng ta cần chất folic acid để giúp các dây thần kinh khỏe mạnh. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên có khoảng 400 microgam những chất đó hằng ngày, bốn lát bánh mì sẽ cung cấp 1/4 nhu cầu cho họ.
5. Giúp giảm béo:
Nếu bạn đang trong chế độ ăn kiêng thì một trong những loại thực phẩm đầu tiên bạn nên nghĩ đến đó là bánh mì. Một lát bánh mì trắng chỉ chứa khoảng 77 calories, ít hơn 6 calories so với một chiếc bánh quy và tương đương với lượng bơ mà bạn dùng kèm với lát bánh mì đó. Vì vậy, bánh mì có thể giúp bạn tránh béo phì nếu có chế độ ăn hợp lý.
6. Tốt cho tiêu hóa:
Bánh mì cung cấp cho con người chất xơ, nó rất tốt cho tiêu hóa. Hai lát bánh mì nâu được ăn vào bữa trưa sẽ cung cấp 1/3 nhu cầu chất xơ hàng ngày của bạn.
Chính vì những lý do trên, chúng ta nên có cái nhìn đúng đắn về bánh mì và có chế độ ăn hợp lý để nhận được hết lợi ích từ bánh mì.
Sưu tầm
Bệnh đột quỵ đang là mối hiểm họa rình rập đe dọa đến tính mạng của nhiều người, nhất là người già. Biết được những dấu hiệu sớm của căn bệnh này để điều trị là điều rất cần thiết. Nhiều cơ quan y tế trên thế giới và các chuyên gia sức khỏe đã đưa ra từ FAST (nhanh chóng) như là một quy tắc nhận biết dấu hiệu bệnh này. Cụ thể như sau:- Face (khuôn mặt): dễ nhận thấy là mặt bệnh nhân bị méo, hoặc mất cân xứng, nếp mũi, má bên bị rũ xuống, cảm thấy 1/4 mặt dưới bị tê.
- Arm (tay): những diễn tiến từ từ như tê mỏi một bên tay, vụng về trong những thao tác, rồi tiến tới tê liệt.
- Speech (lời nói): cảm thấy khó khăn khi nói, hoặc môi, lưỡi bị cứng, tê và nặng hơn là á khẩu.
- Time (thời gian): những dấu hiệu trên có khi chỉ thoáng qua nhưng nó là những thông điệp đầu tiên mà cơ thể báo cho bệnh nhân và thân nhân biết về bệnh đột quỵ.
Ngoài ra, người bị bệnh đột quỵ còn cảm thấy bị nhức đầu nhiều, đột ngột; ù tai hoặc điếc; mất thăng bằng; gặp vấn đề về mắt như bán manh (chỉ nhìn thấy những vật phía trước, không nhìn thấy hai bên; chậm hiểu bất thường; nuốt khó, dễ bị sặc khi ăn.
Các chuyên gia khuyến cáo, nếu bạn hoặc người thân có những dấu hiệu trên nên đi khám để kiểm tra. Việc phát hiện sớm có thể cứu nguy cho tính mạng mà còn có thể giúp bệnh nhân hồi phục.
(Thanh niên online)
Ngoài một lối sống và dinh dưỡng lành mạnh, các động tác tự mát-xa dưới đây sẽ giúp những người có nguy cơ cao phòng chống được chứng đột quỵ khó lường.
Nắm tay : Phòng tràn máu não
Nghiên cứu phát hiện, tràn máu não liên quan đến phương thức vận động, thói quen sinh hoạt của người bệnh, thiếu vận động thì thành mạch máu não phải rất yếu, dễ gây ra vỡ nứt, vì vậy người bệnh nên hoạt động tay trái nhiều, cách làm như sau: Mỗi sáng, trưa, tối nắm tay không 3 lần, mỗi lần nắm từ 400- 800 lượt.
Nhún vai : Phòng chống tắc nghẽn mạch máu não
Nhún vai có thể làm cho thần kinh, huyết quản và cơ bắp phần vai thư giãn, hoạt huyết thông mạch, để cung cấp động lực cho lưu lượng máu ở động mạch cổ lưu thông vào não. Cách làm như sau: mỗi sáng tối nhún vai theo động tác lên xuống, mỗi lần thực hiện 4-8 phút.
Lắc đầu : Phòng chống đột quỵ
Chuyên gia phân tích từ thực tế là công nhân phun sơn rất ít phát sinh đột quỵ do khi làm việc, phần đầu và cổ chuyển động nhiều. Phần đầu chuyển động trước sau có thể gia tăng sức bền của mạch máu, có lợi trong việc phòng chống đột quỵ. Cách làm là: ngồi thẳng, thư giãn cơ bắp vùng cổ, sau đó chuyển động đầu theo hướng trước, sau, trái, phải, mỗi lần thực hiện 30-50 lần, tốc độ chậm, làm 3 lần mỗi ngày, người bị huyết áp thấp có thể nằm ngửa để tập.
Mát-xa phần cổ : Ít bị đột quỵ
Mát-xa phần cổ có thể thúc đẩy mạch máu, cơ vùng cổ thư giãn, giảm bớt cholesterol tích tụ, làm cho mạch máu hồi phục đồng thời cải thiện cung cấp máu cho não, phòng chống gây ra đột quỵ. Cách làm là: hai sau chà xát vào nhau cho nóng, mát xa hai bên trái phải của vùng cổ, tốc độ nhanh một chút, đến lúc da phần cổ đỏ lên là được.
Dương Hằng (Theo Sohu)
(Dân trí) - Ăn tối muộn có thể dẫn đến hàng loạt các bệnh nh
ư béo phì, tiểu đường, ung thư ruột kết, sỏi tiết niệu…
Ăn tối muộn hay ăn trước giờ đi ngủ đều không tốt cho sức khỏe
1. Béo phì
Ăn muộn khiến nồng độ của các axit amin, axit béo và đường trong máu sẽ tăng lên. Lúc này nếu bạn ít vận động, nhiệt năng ít tiêu hao sẽ khiến các chất béo được tích lũy và dần dần làm cho cơ thể béo lên.
2. Tăng huyết áp
Ăn thịt nhiều không chỉ làm tăng “gánh nặng” cho dạ dày mà còn dễ gây tăng huyết áp.
Nếu ăn chất xong rồi ngủ luôn sẽ khiến sự lưu thông máu chậm lại, rất nhiều máu sẽ được “gửi vào” các thành mạch, gây xơ vữa động mạch.
3. Tiểu đường
Ăn tối muộn cùng với ăn quá nhiều sẽ giảm lượng insulin sinh ra.
Bình thường, đường trong máu được kiểm soát bằng insulin, nó có tác dụng làm giảm đường trong máu. Khi lượng insulin không đủ sẽ gây tăng đường huyết, dẫn tới bệnh tiểu đường.
4. Sỏi tiết niệu
Nghiên cứu y học cho thấy, ăn tối muộn là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh ở đường tiết niệu.
Canxi trong thức ăn không được hấp thụ hết trong ruột, khoảng 70-80% sẽ bị đào thải qua đường bài tiết. Ăn tối quá muộn, không vận động mà lập tức đi ngủ luôn, nước tiểu sẽ tích lũy trong bàng quang, hàm lượng canxi trong nước tiểu không ngừng tăng lên, về lâu về dài sẽ hình thành sỏi tiết niệu.
5. Ung thư ruột kết
Sau khi ăn đêm, các hoạt động giảm khiến cơ thể khó tiêu hóa thức ăn. Khi ngủ thức ăn “bám lại” lâu dài trong ruột, thúc đẩy nguy cơ mắc ung thư ruột kết.
6. Đột tử
Ăn muộn kết hợp với uống nhiều rượu rất dễ gây viêm tụy cấp, gây “sốc” trong giấc ngủ, dẫn đến đột tử.
7. Suy nhược thần kinh
Ăn muộn quá no gây áp lực lên các cơ quan xung quanh. Dạ dày, ruột, gan, túi mật, tuyến tuỵ sẽ truyền “thông tin” đến não, khiến các tế bào não hoạt động trở lại. Một khi “làn sóng phấn khích” lan ra các phần khác của võ não thì sẽ dẫn tới ác mộng. Tình trạng kéo dài có thể gây suy nhược thần kinh.
Do vậy, không thể lấy lý do vì công việc bận rộn mà tạo cho mình thói quen ăn sáng vội vàng, ăn trưa cẩu thả hay ăn tối quá muộn. Tốt nhất bạn nên thiết lập cho mình một chế độ ăn cân bằng dinh dưỡng, chú ý đến tỷ lệ hợp lý giữa 3 bữa sáng, trưa và tối (30%, 40%, 30%). Bằng cách này, bạn có thể phòng ngừa những cơn đói cồn cào đến bất chợt và có thể bảo đảm mình sẽ không ăn quá nhiều vào buổi tối.
Thúy Cao
Theo Sina
Thời tiết đang nóng bức, bất chợt những cơn mưa ập tới làm dịu mát không khí. Nhưng khi đất nóng hầm hập mà mưa chỉ lai rai không đủ lắng bụi sẽ làm chúng ta thật sự khó chịuBác sĩ CK1 Đào Thị Yến Thủy (Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM)
Từ xưa, gừng được biết đến không chỉ như là một trong các loại thực phẩm gia vị, mà nó còn được dùng trong y học dân gian để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng bệnh lý thường gặp. Tuy nhiên, khi sử dụng gừng không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe.
Khi bị húng hắng ho, một lát gừng với mấy hột muối... là hết liền. Tuy nhiên đọc bài này mới thấy có nhiều điều mình chưa biết.
Từ xưa, gừng được biết đến không chỉ như là một trong các loại thực phẩm gia vị, mà nó còn được dùng trong y học dân gian để điều trị hoặc làm giảm các triệu chứng bệnh lý thường gặp. Tuy nhiên, khi sử dụng gừng không đúng cách sẽ gây hại cho sức khỏe.
Vì vậy, khi dùng gừng làm thuốc hay để ăn, bạn hãy chú ý đến một số điều cần lưu ý sau.
Bệnh dạ dày:
Đối với người bị đau dạ dày, viêm loét dạ dày, loét tá tràng sẽ được các bác sĩ khuyên không nên ăn gừng, vì trong thành phần của gừng có những chất chủ yếu hoạt động trên các niêm mạc dạ dày. Từ đó, các niêm mạc bị kích thích, bào mòn và gây ra những vết loét. Ngoài ra, khi đã được chẩn đoán có bất kỳ triệu chứng ung thư ở đường tiêu hóa thì chống chỉ định tuyệt đối không được ăn gừng, vì nó sẽ kích thích khối u phát triển rất nhanh. Cũng giống như niêm mạc dạ dày, nếu ăn gừng với số lượng nhiều có thể gây ra những viêm, loét bao phủ hết thành ruột và đại tràng.
Bệnh gan:
Người bị bệnh viêm gan cấp và mãn tính, xơ gan không nên ăn gừng, vì nó kích thích sự bài tiết của các tế bào gan, vì những tế bào này sẽ bị hoại tử khi đang trong trạng thái được kích thích. Ngoài ra, người bị sỏi mật cũng được khuyên không nên ăn gừng, vì nó sẽ làm cho các viên sỏi bị mắc kẹt trong đó, thậm chí trong nhiều trường hợp cần thiết phải phẫu thuật.
Bệnh trĩ, xuất huyết:
Nếu bạn có tiền sử bị rối loạn chảy máu (trong đó có cả chảy máu cam, tử cung…) thì nên hạn chế ăn gừng ở bất kỳ dạng nào, bởi nó sẽ làm tăng tình trạng chảy máu. Ngoài ra, bạn không được ăn gừng khi bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim, huyết áp cao hay đã có tiền sử đột quỵ, nhồi máu và thiếu máu cục bộ.
Phụ nữ mang thai:
Theo kinh nghiệm dân gian, gừng được dùng trong thời gian đầu của thời kỳ mang thai nhằm giảm các triệu chứng buồn nôn, tiết nước bọt và giảm các triệu chứng ngộ độc. Còn trong nửa cuối của thai kỳ nên hạn chế dùng gừng, vì nó có thể làm tăng huyết áp gây nguy hiểm cho thai phụ. Và trong thời kỳ cho con bú cũng không nên ăn gừng, vì nó có thể được bài tiết vào sữa mẹ gây ra chứng mất ngủ ở trẻ em.
Người thân nhiệt cao:
Trong trường hợp này không nên ăn gừng vì nó sẽ làm thân nhiệt tăng cao hơn. Tuy nhiên, nếu bị cúm virus mà không sốt hay sốt nhẹ vẫn có thể dùng gừng, nhưng khi đã có dấu hiệu sốt cao và có nguy cơ tổn thương các mạch máu và xuất huyết thì tuyệt đối không được dùng gừng.
Tương tác của thuốc và gừng:
Trong thực tế gừng có thể phù hợp và kết hợp được với nhiều loại thuốc. Nhưng cũng nên cẩn trọng hơn khi dùng thuốc phải có khuyến cáo của bác sĩ. Điều không nên làm là kết hợp gừng với những loại thuốc giảm huyết áp, chống loạn nhịp tim và thuốc kích thích cơ tim. Vì hoạt tính của những loại thuốc này sẽ tăng lên khi có sự kết hợp với gừng và gây ra tình trạng công thuốc, quá liều. Ngoài ra, gừng cũng không được dùng với thuốc hạ đường huyết vì gừng sẽ làm giảm lượng đường trong máu của bạn, điều này đã được quy định riêng cho bệnh tiểu đường.
Theo Đông y, bạn dùng gừng không được gọt vỏ, vì như vậy sẽ mất hết dược tính của gừng. Không được ăn gừng tươi đã bị dập hay mọc mầm, vì gừng ở dạng này dễ sinh ra một loại độc tố cực mạnh, thay đổi tính chất của gừng, dẫn tới hoại tử tế bào gan gây ung thư gan và thực quản. Hơn nữa, thời gian buổi tối cũng không được ăn gừng, vì nó có thể ảnh hưởng xấu đến sinh lý và sức khỏe.
Sưu tầmTác dụng chữa bệnh thần kỳ của rau má
Rau má không chỉ là một loại rau thông dụng, có thể ăn hàng ngày mà còn là một vị thuốc chữa được nhiều chứng bệnh như: mụn nhọt, hạ sốt, làm đẹp, tăng cường sức khỏe, giải độc, táo bón, tim mạch…. Hạ sốt
Khi trẻ bị sốt có thể dùng rau má, rửa sạch, vò nát, đổ xâm xấp nước, đun sôi nhỏ lửa khoảng 15 phút rồi chắt ra cốc lớn. Cứ khoảng một tiếng cho trẻ uống vài thìa. Trẻ sẽ giảm sốt.
Trị mụn
Nhiều người nghiên cứu cho thấy hoạt chất của rau má là những Saponin (Axit Asiatic, Axit brahmic ) có tác dụng giúp các mô liên kết tái tạo nhanh chóng làm tổn thương mau lành và lên da non, giúp trị mụn hiệu quả. Ngày nay có nhiều loại thuốc trị mụn viên nang được chiết suất từ tinh chất rau má.
Rau má tươi 30-100g rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống hàng ngày hoặc dùng máy xay sinh tố xay nhuyễn rồi hòa đường uống.
Giúp tăng trí nhớ
Lá rau má sấy khô tán bột, uống chung với sữa mỗi ngày 3-5 gam sẽ có tác dụng tốt cho những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ và thị lực.
Làm lành các vết thương
Đây là tác dụng của Asiaticosid, hoạt chất chính của rau má. Nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng ủng hộ ý kến cho rằng rau má có tác dụng trên một số tế bào biểu bì, kích thích sự sừng hóa và làm lành vết thương. Rau má còn có tác dụng bảo vệ lớp áo trong của mạch máu.
Điều trị giãn tĩnh mạch
Dùng thuốc rau má có kết quả tốt đối với vi tuần hoàn và mao mạch, điều trị tang áp lực tĩnh mạch.
Bảo vệ thần kinh
Một công trình nghiên cứu năm 1999 cho biết, các dẫn xuất của chất asiaticosid có khả năng bảo vệ thần kinh chống lại độc tố thần kinh beta-amyloid. 3 trong số 28 dẫ xuất Asiatisid có thể được đưa vào nghiên cứu điều trị bệnh Alzheimer nhờ khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của beta-amyloid.
Chống loét dạ dày
Ngoài ra rau má còn có tác dụng chống loét dạ dày, làm chậm phát triển u, kháng virut và kháng nấm.
Dưỡng ẩm cho da
Bạn có thể dùng rau má để dưỡng da kể cả bên trong lẫn bên ngoài. Bạn có thể dùng từ 30-40g rau má tươi mỗi ngày. Rau má khi mua về, bạn rửa sạch, giã nát hoặc xay nát, lọc lấy nước. Cho thêm một ít đường vào cho dễ uống. Sau đó bạn có thể lấy bã rau má dùng đắp mặt hoặc rửa mặt bằng nước rau má tươi.
******
Trong một số trường hợp, rau má làm tăng lượng cholesterol và lượng đường trong máu, vì vậy những người có cholesterol cao và bệnh tiểu đường nên tránh lạm dụng sử dụng rau má quá nhiều.
Thảo mộc này cũng có thể dẫn đến sẩy thai nếu sử dụng trong thời kỳ mang thai. Do vậy, trẻ em, phụ nữ mang thai và đang cho con bú cũng nên tránh dùng loại rau này.
Rau má có thể tương tác với các thuốc gây buồn ngủ và thuốc chống co giật, barbiturat, benzodiazepin, thuốc mất ngủ, và các thuốc chống trầm cảm... Nó cũng có thể làm giảm hiệu quả của insulin và thuốc tiểu đường uống khác, cũng như các thuốc hạ cholesterol.
Theo BS. Nguyễn Hồng Siêm, Chủ tịch Hội Đông y Hà Nội, dùng quá nhiều rau má và kéo dài có thể gây biến chứng cho một số tế bào máu, tế bào gan, tế bào thận. Một ngày mỗi người bình thường có thể dùng một cốc rau má, tương đương với khoảng 40 gram rau má trở lại, nhưng cũng không nên uống quá một tháng. Nếu muốn dùng đợt sau thì phải nghỉ tối thiểu là nửa tháng rồi mới dùng tiếp.
T.T Sưu Tầm
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn